Danh sách Blog của Tôi

Thứ Bảy, 31 tháng 7, 2010

5 điều Bác Hồ dạy

1. Yêu tổ quốc, yêu đồng bào
2. Học tập tốt, lao động tốt
3. Đoàn kết tốt, kỹ luật tốt
4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt.
5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm

Không biết, bao nhiêu % công chức nhà nước nhớ và làm theo những điều này nhỉ? Hay những điều này chỉ để dạy con nít?

Thứ Năm, 29 tháng 7, 2010

Chuyện khách sạn Phương Đông...

Có người cho rằng việc khách sạn Phương Đông (Tp. Vinh) dành riêng một "chuyên khoang" cho PTT Nguyễn Sinh Hùng đi lại là do tự khách sạn làm chứ PTT chắc chẳng yêu cầu.

Khả năng này có thể xãy ra. Nhưng, với phong trào học tập theo gương Bác đã và đang diễn ra, báo chí tốn bao nhiêu công sức tuyên truyền, biết bao nhiêu gương tốt được vinh danh, vậy mà người dân vẫn tin cách tiếp đãi PTT xa hoa sẽ làm ông vui lòng thì có thể thấy hiệu quả của phong trào này chưa cao.

Còn nếu quả thật, ông Hùng đòi phải được như thế thì chắc hẳn phong trào này hầu như bị ông làm cho phá sản.

Thứ Tư, 28 tháng 7, 2010

Xấu che tốt khoe

Dân gian có câu "xấu che tốt khoe". Có lẽ đấy là tâm lý hành xử chung của con người. Nhưng về dài lâu, dưới giác độ quốc gia, lạm dụng nó coi chừng lợi bất cập hại .

Nếu người dân không biết sự thật những gì đang diễn ra quanh họ, thì đất nước đó khó mà quy tụ tối ưu trí lực để phát triển. Ngoài ra, nếu tự phát giác những gì mà lẽ phải được biết, nhưng đã bị giấu diếm, thì người dân sẽ mất lòng tin, và tệ hại hơn họ có thể còn nghi ngờ cả những cái tốt đẹp thật sự, vi nghi ngờ chúng sỡ dĩ tốt đẹp là vì sự thật chưa được phơi bày.

Thế, tại sao có nhiều điều lẽ ra người dân phải biết, nhưng không được biết? Có thể người đại diện cho dân không thật sự vì lợi ích của dân. Cũng có lẽ những người đại diện cho dân không đủ khả năng giải quyết những tồn tại của xã hội mà nếu để người dân biết được điều đó thì họ chẵng có lý do gì tiếp tục đại diện cho dân nữa. Cũng có thể là do tư duy nhiệm kỳ, nên cứ giấu rồi dồn những tồn tại cho người kế nhiệm. Cũng có khả năng người đại diện cho dân có một vị trí không bị cạnh tranh cho nên tội gì phải cực thân khi những tồn tại đó chỉ có hại cho dân nhưng không có hại cho mình....

"Xấu che tốt khoe" ở chừng mực nào đó cũng có lý, nhưng vẫn cần nhớ, khó có cái gì tồn tại bền vững khi bản chất nó có nhiều vấn đề không được giải quyết.


Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2010

"Hối phiếu"

Bill of Exchange được các tài liệu cũ dịch là Hối Phiếu. Có người hiểu tên gọi này một cách đơn giản: "hối" là đòi; còn "phiếu" là tờ giấy. Nói cách khác, họ hiểu hối phiếu là "tờ giấy đòi nợ". Thậm chí, người ta còn viện dẫn phần đầu của định nghĩa về nó, "Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện", để minh chứng cho cách hiểu này. Cách hiểu như vậy là thiếu chính xác cả dưới giác độ nguyên tắc ghép từ Hán Việt lẫn ý nghĩa kinh tế của hối phiếu.

Thứ nhất, về nguyên tắc ghép từ Hán Việt, một từ Hán mà bản thân nó đứng một mình không có nghĩa thì không thể ghép với một từ thuần Việt được. Trong trường hợp này, do từ Hán "phiếu", nghĩa tiếng Việt là "tờ", đứng một mình không có nghĩa cho nên nó không thể ghép với từ thuần Việt "hối", có ý nghĩa là "đòi" được. Do vậy, nếu coi hối phiếu là "tờ giấy đồi nợ" thì vi phạm nguyên tắc ghép từ Hán Việt.

Từ Hán "phiếu" phải được ghép với một từ Hán khác mới đúng nguyên tắc. Từ "hối" nếu mang nghĩa là "hoán đổi" (ví dụ như trong "hối lộ", "hối suất" và "hối đoái") mới là một từ Hán và như vậy, mới ghép với từ Hán "phiếu" được. Như vậy, Bill of Echange, dịch ra là hối phiếu thì ý nghĩa của nó không phải là "tờ giấy đòi nợ" mà phải là "tờ giấy hoán chuyển nợ".

Thứ hai, về ý nghĩa kinh tế của hối phiếu, theo định nghĩa hoàn chỉnh "Hối phiếu là tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho người khác, yêu cầu người này ngay khi nhìn thấy tờ phiếu, hoặc đến một ngày nhất định trong tương lai, phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó, hoặc trả cho người cầm phiếu" (A Bill of Exchange is an unconditional order in writing, addressed by one person to another, signed by the person giving it, requiring the person to whom it is addressed to pay on demand or at a fixed or determinable future time a sum certain in money to or to the order of a specified person, or to bearer").[1] Như vậy, nếu chỉ dùng phần đầu định nghĩa hối phiếu để hiểu về nó thì cũng giống như hiểu "rắn là một loài bò", thay vì "rắn là một loài bò sát không chân".

Hãy xét một trường hợp sử dụng hối phiếu đơn giản sau: A là chủ nợ của B và B lại là chủ nợ của C. Cách thông thường, B sẽ thu nợ từ C rồi thanh toán cho A. Cách khác, B sẽ viết tờ giấy yêu cầu C thanh toán nợ cho A thay mình. Nếu C chấp nhận yêu cầu này thì sau khi C thanh toán nợ cho A, quan hệ nợ nần giữa A và B cũng như giữa B và C cũng chấm dứt. Như vậy, tờ giấy này đã đóng vai trò hoán chuyển nợ nần giữa A, B và C. Vì vậy, nó có tên là Hối Phiếu hay Bill of Exchange.

Séc (còn được gọi là "Chi phiếu") là một loại hối phiếu đặc biệt. Trong ví dụ trên, C chính là ngân hàng giữ tiền gởi thanh toán của B.

Hiện nay, "Luật các công cụ chuyển nhượng" gọi hối phiếu là "hối phiếu đòi nợ" còn lệnh phiếu thì gọi là "hối phiều nhận nợ".[2] Cách gọi này rõ ràng không chuẩn đối với tờ hối phiếu như đã phân tích; còn lệnh phiếu (promissory note) mà gọi là hối phiếu nhận nợ thì.... hết biết!

Thứ Bảy, 24 tháng 7, 2010

Làm gì cho kế hoạch "hậu đào tạo" hai vạn tiến sỹ?

Chính phủ đã phê duyệt đề án đào tạo trên 20 ngàn tiến sỹ trong vòng10 năm tới. Nếu đề án này thành công, cho tới 15 năm nữa chúng ta sẽ có ít nhất hai vạn tiến sỹ được đào tạo chủ yếu từ các nước phát triển. Thế thì Nhà nước sẽ làm gì để những tiến sỹ này phát huy những điều đã học?
1. Làm thế nào để họ luôn cập nhật được những công trình mới trong lĩnh vực của họ? Muốn làm điều này, cần phải có những thư viện có đủ và cập nhật các tập san khoa học quốc tế trong các lĩnh vực khác nhau. Ngoài ra, họ cần có chế độ và kinh phí để tham gia các cuộc hội thảo lớn trên thế giới và khu vực.
2. Làm sao để họ có dữ liệu (data) và các phần mền chuyên dụng để tiếp tục nghiên cứu? Không giải quyết được vấn đề này kỹ năng nghiên cứu của họ rồi cũng thui chột và hẳn sẽ rất ít người có được các công trình công bố quốc tế.
3. Làm sao để họ có thời gian để nghiên cứu mà không bị vướng bận cơm áo gạo tiền? Nếu nhờ danh nghĩa tiến sỹ để "chạy sô" vì miếng cơm manh áo cho bản thân và gia đình thì họ chẳng còn thời gian dành cho công việc nghiên cứu đúng nghĩa. Thế là, những công trình "xôi thịt" ra đời. Những công trình vô dụng đó chẳng những tốn tiền của vô ích mà tai hại hơn, nó còn gieo vào đầu thế hệ trẻ một cách hiểu lệch lạc về nghiên cứu.
Tóm lại, nếu không có kế hoạch "hậu đào tạo" cho hơn hai vạn tiến sỹ theo đề án thì rất có thể sau một thời gian lấy bằng, nhiều người trong số họ sẽ trở thành "a doctor of philosophy used to research in...".

Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2010

Nghiên cứu

Hồi trước tôi cứ nghĩ nghiên cứu là đọc càng nhiều, hiểu càng nhiều thế là đạt yêu cầu.

Thế nhưng, cách thức đó có thể giúp tôi biết được những kiến thức trong những chủ đề mà tôi quan tâm chứ nó không giúp tôi khám phá được những cái mới mà kiến thức nhân loại chưa có. Thật sự, đó chỉ là việc tìm hiểu một chủ đề nào đó chứ chưa phải là nghiên cứu.

Nghiên cứu là tìm ra mối quan hệ giữa hai hay nhiều vấn đề mà những người nghiên cứu trước chưa làm hoặc làm chưa tốt. Muốn vậy ta phải biết đối với chủ đề ta muốn nghiên cứu, kiến thức nhân loại đã có gì và còn chổ nào để ta cần khám phá, để đóng góp thêm cho kiết thức của nhân loại. Như vậy, làm nghiên cứu trước hết phải điểm qua những trước tác (literature review) rồi sau đó mới tính tới chuyện nghiên cứu cái gì (research questions) và làm sao (data và methodology) để tìm ra cái mới (findings).

Kết quả nghiên cứu không cần phải được ứng dụng ngay mà chỉ cần bổ sung cho kho tàn kiến thức nhân loại và cho thấy hứa hẹn hữu ích cho xã hội là có thể được chấp nhận

Tóm lại, nghiên cứu khác với tìm hiểu (và nêu ý kiến).

Phần lớn các công trình nghiên cứu của Việt Nam, mà tôi biết, chỉ thiên về tìm hiểu (và nêu ý kiến).