(Đăng trên KTSG:http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/bandocviet/38297/)
Bill of Exchange được các tài liệu cũ dịch là Hối Phiếu. Có người hiểu tên gọi này một cách đơn giản: "hối" là đòi; còn "phiếu" là tờ giấy. Nói cách khác, họ hiểu hối phiếu là "tờ giấy đòi nợ". Thậm chí, người ta còn viện dẫn phần đầu của định nghĩa về nó, "Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện", để minh chứng cho cách hiểu này. Cách hiểu như vậy là thiếu chính xác cả dưới giác độ nguyên tắc ghép từ Hán Việt lẫn ý nghĩa kinh tế của hối phiếu.Thứ nhất, về nguyên tắc ghép từ Hán Việt, một từ Hán mà bản thân nó đứng một mình không có nghĩa thì không thể ghép với một từ thuần Việt được. Trong trường hợp này, do từ Hán "phiếu", nghĩa tiếng Việt là "tờ", đứng một mình không có nghĩa cho nên nó không thể ghép với từ thuần Việt "hối", có ý nghĩa là "đòi" được. Do vậy, nếu coi hối phiếu là "tờ giấy đồi nợ" thì vi phạm nguyên tắc ghép từ Hán Việt.
Từ Hán "phiếu" phải được ghép với một từ Hán khác mới đúng nguyên tắc. Từ "hối" nếu mang nghĩa là "hoán đổi" (ví dụ như trong "hối lộ", "hối suất" và "hối đoái") mới là một từ Hán và như vậy, mới ghép với từ Hán "phiếu" được. Như vậy, Bill of Echange, dịch ra là hối phiếu thì ý nghĩa của nó không phải là "tờ giấy đòi nợ" mà phải là "tờ giấy hoán chuyển nợ".
Thứ hai, về ý nghĩa kinh tế của hối phiếu, theo định nghĩa hoàn chỉnh "Hối phiếu là tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho người khác, yêu cầu người này ngay khi nhìn thấy tờ phiếu, hoặc đến một ngày nhất định trong tương lai, phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó, hoặc trả cho người cầm phiếu" (A Bill of Exchange is an unconditional order in writing, addressed by one person to another, signed by the person giving it, requiring the person to whom it is addressed to pay on demand or at a fixed or determinable future time a sum certain in money to or to the order of a specified person, or to bearer").[1] Như vậy, nếu chỉ dùng phần đầu định nghĩa hối phiếu để hiểu về nó thì cũng giống như hiểu "rắn là một loài bò", thay vì "rắn là một loài bò sát không chân".
Hãy xét một trường hợp sử dụng hối phiếu đơn giản sau: A là chủ nợ của B và B lại là chủ nợ của C. Cách thông thường, B sẽ thu nợ từ C rồi thanh toán cho A. Cách khác, B sẽ viết tờ giấy yêu cầu C thanh toán nợ cho A thay mình. Nếu C chấp nhận yêu cầu này thì sau khi C thanh toán nợ cho A, quan hệ nợ nần giữa A và B cũng như giữa B và C cũng chấm dứt. Như vậy, tờ giấy này đã đóng vai trò hoán chuyển nợ nần giữa A, B và C. Vì vậy, nó có tên là Hối Phiếu hay Bill of Exchange.
Séc (còn được gọi là "Chi phiếu") là một loại hối phiếu đặc biệt. Trong ví dụ trên, C chính là ngân hàng giữ tiền gởi thanh toán của B.
Hiện nay, "Luật các công cụ chuyển nhượng" gọi hối phiếu là "hối phiếu đòi nợ" còn lệnh phiếu thì gọi là "hối phiều nhận nợ".[2] Cách gọi này rõ ràng không chuẩn đối với tờ hối phiếu như đã phân tích; còn lệnh phiếu (promissory note) mà gọi là hối phiếu nhận nợ thì.... hết biết!
Bài vui!
Trả lờiXóaGóp ý nè, anh phải nói là từ Hán Việt nhé, không thể chỉ nói là từ Hán...
Bạn anh,