Danh sách Blog của Tôi

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2011

Quy định trần lãi suất cho vay- Những điều cần cân nhắc

(Đăng trên Thời báo KTSG http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/bandocviet/52585/Nen-can-nhac-ve-quy-dinh-tran-lai-suat-cho-vay.html)

Qui định trần lãi suất huy động bộc lộ nhược điểm làm người ta nghĩ đến việc bỏ quy định này và thay vào đó là quy định trần lãi suất cho vay. [1] & [2] Tuy nhiên, trước khi làm điều đó Ngân hàng Nhà nước cần cân nhắc mấy vấn đề sau:

- Lãi suất từng hợp đồng cho vay phụ thuộc vào nhiều yếu tố như (1) đặc điểm khoản vay (số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, phương thức cho vay, hình thức bảo đảm tín dụng, loại tiền vay…), (2) đặc điểm khách hàng vay (mức độ rủi ro của khách hàng, khách hàng có quan hệ với ngân hàng trước đó không…), (3) tính chất ngành nghề của khách hàng, (4) đặc điểm ngân hàng cho vay (ngân hàng lớn hay nhỏ) và (5) đặc điểm từng thời kỳ kinh tế. Vậy, làm thế nào Ngân hàng Nhà nước có thể xác định được một mức trần lãi suất cho vay phù hợp, có thể thỏa mãn tổng hòa các yếu tố nói trên?

- Thời hạn cho vay càng dài thì rủi ro càng cao, (nếu các yếu tố khác bằng nhau hoặc không đổi) ngân hàng sẽ tính lãi cao cho các khoản vay có thời gian dài để bù đắp rủi ro. Nếu khống chế trần lãi suất, các ngân hàng có thể sẽ hạn chế cho vay trung dài hạn. Trong khi đó, hiện nay, đây là nguồn vốn rất quan trọng đối với các doanh nghiệp để đầu tư sản xuất.

- Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường rủi ro cao hơn so với các doanh nghiệp lớn, nên các ngân hàng thường tính lãi suất cho họ vay cao hơn so với khi cho các doanh nghiệp lớn vay. Nếu có trần lãi suất, có thể ngân hàng chỉ ưu tiên cho doanh nghiệp lớn vay, vì như vậy có lợi cho ngân hàng hơn. Điều đó có thể làm các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn hơn khi đi vay. Trong khi đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện đang có vai trò quan trọng trong nền kinh tế.

- Quy định trần lãi suất huy động bị các ngân hàng lách được thì cũng không khó để họ lách quy định trần lãi suất cho vay. Họ có thể lách bằng cách tính thêm các loại phí (phí cam kết, phí thẩm định tài sản bảo đảm, phí thẩm định dự án vay…) hoặc áp dụng cách tính lãi danh nghĩa thấp hơn lãi suất trần, nhưng lãi suất hiệu dụng (effective rate) thì cao hơn [ví dụ như tính lãi theo phương pháp gộp hoặc yêu cầu doanh nghiệp để lại số dư tại ngân hàng từ tiền vay (compensating balance)].

Các biện pháp hành chính không gắn với quy luật thị trường thì trước sau gì cũng bộc lộ nhược điểm. Nếu muốn dùng biện pháp hành chính khác để thay thì thiết nghĩ Ngân hàng Nhà nước nên cân nhắc trước nhược điểm của biện pháp hành chính mới, trước khi ban hành.

[1] http://cafef.vn/20110416075916528CA34/chi-co-ngan-hang-huong-loi.chn

[2] http://www.baomoi.com/Home/TaiChinh/www.phapluatvn.vn/Doanh-nghiep-lo-ngan-hang-lai/6130653.epi

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

Khấu hao có thu hồi được chi phí đầu tư tài sản cố định?

Có quan điểm rằng khấu hao là để thu hồi vốn đã đầu tư vào tài sản cố định, nhằm tái đầu tư tài sản cố định mới. Đây là một quan điểm sai lầm.

Doanh thu là nguồn tiền vào của doanh nghiệp. Đành rằng khấu hao có thể ảnh hưởng tới giá thành sản phẩn và như vậy, ảnh hưởng tới giá bán mà doanh nghiệp muốn bán, nhưng vì giá bán là do cung cầu trên thị trướng quyết định chứ không phải doanh nghiệp tự quyết định. Cho nên, doanh thu không do khấu hao quyết định. Đó chính là lý do tại sao khi tính lưu chuyển tiền tệ phương pháp trực tiếp người ta không tính tới khấu hao.

Trong lưu chuyện tiền tệ phương pháp gián tiếp, người ta xuất phát từ lợi nhuận ròng cộng khấu hao, trước khi điều chỉnh các khoản mục khác, không phải vì khấu hao là khoản thu hồi; mà vì khi tính lợi nhuận ròng người ta đã trừ đi khấu hao, mà khấu hao là chi phí phân bổ chứ không chi bằng tiền, nên khi tính lượng tiền doanh nghiệp có được, nếu xuất phát từ lợi nhuận ròng, thì phải cộng lại chị phí không chi bằng tiền này.

Giá như khấu khao mà thu hồi được vốn đầu tư thì cần gì bán hàng, chỉ cần bộ phận kế toán hạch toán khấu hao thì muốn thu bao nhiêu vốn mà chẳng được?

Khấu hao tài sản cố định là cần thiết để lượng định hiệu quả kinh đoanh của doanh nghiệp và tận dụng lợi ich thuế khóa, do khấu hao được trừ ra khỏi thu nhập tính thuế. Nhưng, khấu hao tuyệt nhiên không hề thu hồi chi phí đầu tư tài sản cố định; chỉ có tiền bán hàng mới giúp thu hồi chi phí này mà thôi.

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2011

Trình bày tại hội thảo để làm gì?

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu rất tự tin, đến hội thảo trình bày các công trình nghiên cứu của họ chủ yếu để chia sẻ cái hay, cái độc đáo cho người khác. Nếu có người chỉ ra những thiếu sót trong các nghiên cứu đó thì tác giả thường không vui. [1]

Các nhà nghiên cứu nước ngoài hơi khác. Họ đến với các hội thảo thường là do chưa tự tin về những gì mình đang làm cho nên chủ yếu là để được góp ý. Mục đích chính của họ khi trình bày nghiên cứu của mình là để học hỏi. Có rất nhiểu vấn đề trong quá trình nghiên cứu họ không nghĩ tới hoặc chưa biết cách giải quyết. Họ muốn thông qua hội thảo để các đồng nghiệp khác có thể phát hiện những thiếu sót mà góp ý để công trình của họ hoàn thiện hơn.

Đây là một ví dụ, tác giả bài viết cám ơn đóng góp của những người tham dự các hội thảo mà bài này đã được trình bày:

"An earlier version of this paper was presented at the Australian Graduate School of Business, Monash Univerersity at Clayton, University of Technology-Sydney, The University of New England, The University of Western Australia, the 1998 AAANZ Conference, the 1998 FMA Meetings in Chicago, and the Banking Research Study Group at the University of New South Wales. The authors would like to thank participants at these presentations and Neil Esho, Mark Flannery, Benton Gup, Warren Hogan, Paul Kofman, Kerry Pattenden, Jian-Xin Wang, Jonathan Karpoff (the editor), and Elazar Berkovitch (the referee) for their helpful comments."

(Nguồn: Dennis, S. A., Nandy, D., and Sharpe, I. G. (2000). The determinants of contract terms in bank revolving credit agreements. Journal of Financial & Quantitative Analysis, 35(1), 87-110.)

[1] Đây là nhận xét cá nhân người viết qua những lần dự hội thảo ở Việt Nam.

Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2011

Mấy suy nghĩ về việc sinh viên nghiên cứu khoa học

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang khuyến khích nghiên cứu khoa học của sinh viên. [1] Cả sinh viên [2] và giảng viên [3] của Trường Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chính Minh đều tích cực tham gia phong trào này. Có thể nói đây là tín hiệu tích cực đáng mừng cho sự hiếu học và đam mê nghiên cứu của cả thầy lẫn trò. Tuy vậy, qua các bài viết về nghiên cứu khoa học của họ thiết nghĩ có mấy vấn đề cần trao đổi thêm để phong trào này được tốt hơn.

- Cần làm cho sinh viên hiểu và biết thế nào là nghiên cứu. Những gì họ đang làm thiên về tìm hiểu và tự học hơn là công việc nghiên cứu thật sự. Xem thêm [4]

- Cần làm cho các công trinh có tính hội nhập quốc tế bằng cách gởi công bố ở các tạp chí có thứ hạng của quốc tế [5], nếu chỉ lẩn quẩn ở các công tình có tính hành chính như cấp khoa, cấp trường, cấp bộ và cấp nhà nước thì chẳng có tính cọ sát cao và chưa chắc được nhân loại thừa nhận. Vì những người nghiệm thu đề tài các cấp nói trên chưa hẳn là những người am hiểu hàng đầu lĩnh vực được nghiệm thu. Hơn nữa, khi gởi công trình đi các tạp chí có uy tín thì người đọc phản biện ở các tạp chí này có thể sẽ chỉ ra những điểm sai trong nghiên cứu của mình để mình có thể học hỏi và hoàn thiện. Đây là những ý kiến rất quý báo vì những người phản biện của các tạp chí lớn thường là các big name trang lĩnh vực đó.

- Cần phân biệt sinh viên coursework với sinh viên by research. Thường các sinh viên sau đại học mới có chương trình by reserch và lúc đó họ được cung cấp phương tiện nghiên cứu y như giảng viên của trường cho nên có điều kiện nghiên cứu rất tốt. Sinh viên đại học trở xuống chỉ cần học được kiến thức căn bản của ngành, kỹ năng tự học tốt thì đã đủ cho nghề nghiệp và việc tự học trong tương lai, không nhất thiết biết kỹ năng nghiên cứu (theo đúng nghĩa của công tác nghiên cứu). Vì khi ra đời những người này không tiếp tục làm nghiên cứu; còn nếu họ muốn nghiên cứu thì sẽ tham gia các khóa học by research sau đại học.

Hiện nay, nội dung đào tạo và thời gian đào tạo đang có vấn đề [6] thì quỹ thời gian làm công tác nghiên cứu không đúng và không bài bản có thể không hiệu quả cho sinh viên.

Mong những ai quan tâm tới vấn đề này tiếp tục đóng góp.

[1] http://nld.com.vn/20110326110736236p0c1017/trich-hoc-phi-cho-sinh-vien-nghien-cuu-khoa-hoc.htm

[2] http://www.iae.edu.vn/index.php?page=detailnews&id=46

[3] http://www.iae.edu.vn/index.php?page=detailnews&id=46

[4] http://www.facebook.com/note.php?note_id=410731647129

[5] Ví dụ danh sách các tạp chí khoa học được phân loại ở Úc, xem: http://www.arc.gov.au/era/era_journal_list.htm

[6] http://www.facebook.com/note.php?note_id=200811133262310

Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2011

Làm chủ tịch... còn sướng hơn!

Luật Ngân hàng Nhà nước quy định “Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là thành viên của Chính phủ, là người đứng đầu và lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng” (Điểu 8, khoản 1). Luật này cũng quy định chi tiết các hoạt động "quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng" cần phải làm.

Luật Ngân hàng Nhà nước cũng không thấy nói về Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia.

Theo quyết định thành lậpquy chế hoạt động của ủy ban này thì chủ tịch của nó chỉ phải “chịu trách nhiệm tước Thủ tướng Chính phủ trước pháp luật về việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao” nhưng không đề cập rõ trách nhiện cụ thể là gì. Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia được hưởng chế độ tương đương Thống đốc (tương đương bộ trưởng).[3]

Đã vậy, ông Giàu theo gương ông Thúy là sướng nhất.


Thứ Hai, 7 tháng 3, 2011

Tiến sĩ Vs.Tiến sĩ khoa học

Trước năm 1998, Việt Nan không đào tạo tiến sĩ (TS) mà chỉ có phó tiến sĩ (PTS). Các nước XHCN có đào tạo TS, nhưng người Việt học ở các nước này chủ yếu chỉ có bằng PTS mà thôi.

Từ năm 1998, theo Luật Giáo dục, Việt Nan không còn học vị PTS mà chỉ có TS. Nhưng nếu quy đổi tất cả thành TS sẽ không công bằng với những ai trước đó có bằng TS. Cho nên, ai có PTS thì gọi là TS; còn ai có TS thì gọi là tiến sĩ khoa học (TSKH).

Những người được đào tạo TS ở các nước tư bản hoặc có bằng TS sau năm 1998 cũng được gọi là TSKH.

Tóm lại TSKH là cách gọi TS thật sự; còn TS là cách gọi PTS.

Xem thêm:

http://www.sggp.org.vn/bandocdatcauhoi/2006/7/52839/

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%B3_ti%E1%BA%BFn_s%C4%A9

http://dantri.com.vn/c20/s202-258573/vi-sao-co-su-bat-dong-ve-chuyen-ton-vinh-tien-si.htm

Thứ Bảy, 26 tháng 2, 2011

Ai làm chính sách vĩ mô ở Việt Nam?

(Đăng trên TBKTSG: http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/bandocviet/49005/Lo-hong-do-dau?.html)

Ông Lê Đức Thúy cho rằng “Nhiều NHTM đã kiếm lời trên lưng nhà nước" vì “Chúng ta giữ lại LS tái chiết khấu, tái cấp vốn quá thấp. Những NH lớn mua TPCP thậm chí cao hơn LS huy động, chịu lỗ một chút sau đó lên thị trường liên NH cho vay lại 15-20%”. [1]

Thiết nghĩ, trong chuyện này, ông Thúy chưa chỉ đúng người phải chịu trách nhiệm.

Trái phiếu Chính phủ là một nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước. [2a, 2b] Đối với ngân hàng thường mại, nó là một phương tiện để đầu tư và dự trữ cho thanh khoản. [3] Lãi suất trái phiếu do Bộ Tài chính quy định [4a, 4b]. Trên cơ sở tính toán lợi ích, các ngân hàng thương mại sẽ tham gia mua trái phiếu. Đương nhiên, họ sẽ mua nếu có lợi cho mình. Khi đó, họ đã góp phần thực hiện kế hoạch ngân sách nhà nước.

Lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. [5a, 5b] Để có tỷ lê tăng trưởng tín dụng (thực tế và kế hoạch) rất cao vừa qua [6a, 6b], Ngân hàng Nhà nước phải khuyến khích và tạo thêm thanh khoản cho các ngân hàng thương mại và như thế, hai loại lãi suất trên đã thực hiện nhiệm vụ này. Ngân hàng Nhà nước đã căng cứ tình hình thực tế và mục đích của mình để quy định lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn. [7a, 7b]

Như vậy, việc các ngân hàng thương mại mua trái phiếu Chính phủ rồi thực hiện hoạt động tái chiết khấu hay tái cấp vốn để tiếp tục cho vay là phản ứng hoàn toàn phù hợp với những gì Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước mong muốn.

Hiện các chính sách vĩ mô đó được coi là có vấn đề. Các cơ quan đã làm ra các chính sách đó lẽ ra phải nhận trách nhiệm của mình và ông Thúy với tư cách người đứng đầu Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia phải chỉ ra ai là người có trách nhiệm. Thế nhưng, ông lại đỗ lỗi cho các chủ thể đơn thuần hoạt động theo các chính sách đó.

[1] http://www.baomoi.com/Home/TaiChinh/cafef.vn/Ong-Le-Duc-Thuy-Nhieu-NHTM-da-kiem-loi-tren-lung-nha-nuoc-do-LS-tai-chiet-khau-tai-cap-von-qua-thap/5769900.epi

[2a]http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1351583/2126549/2117088?p_folder_id=15263855&p_recurrent_news_id=15264375

[2b]http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1351583/2126549/2117088?p_folder_id=35823696&p_recurrent_news_id=35867188

[3] http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=192054

[4a] http://www.khaitri.vn/DirectFiles/S40/P40D19520F2.pdf

[4b] http://moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=26144

[5a] http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/07/07/5032-2/

[5b] http://www.thuvienphapluat.vn/archive/Luat/Luat-Ngan-hang-Nha-nuoc-Viet-Nam-2003-sua-doi-

[6a] http://atpvietnam.com/vn/thongtinnganh/44662/index.aspx

[6b] http://vneconomy.vn/2011022307580195P0C6/thong-doc-doanh-nghiep-bat-dau-ban-ngoai-te-ra-thi-truong.htm

[7a]http://www.sbv.gov.vn/wps/SBVDataStore/upload/VBQPPL/NHNN/2010/QUYETDINH/2010_11_5_102839_124.pdf

[7b]http://www.sbv.gov.vn/wps/SBVDataStore/upload/VBQPPL/NHNN/2011/QUYETDINH/2011_02_17_34247_306.pdf