Danh sách Blog của Tôi

Chủ Nhật, 28 tháng 11, 2010

Thắc mắc Vinashin

Trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn Vinashin Nguyễn Ngọc Sự làm nảy sinh mấy thắc mắc:


- "... việc quan trọng trong thời gian này là tập trung tài chính để thực hiện công tác điều hành vĩ mô...": Chuyện tại tập đoàn sao lại liên quan công tác 'vĩ mô'?


- "Chúng tôi xây dựng một tài khoản trung tâm để tất cả các đơn vị tham gia vào hệ thống đó": Tài khoản này mở dưới danh nghĩa ai? Điều hành như thế nào? Với tình hình như hiện nay, làm sao cân đối thừa thiếu tiền của các thành viên trong hệ thống Vinashin để sử dụng tiền trên tài khoản này? Và nguyên tắc phân phối tiền thừa thiếu như thế nào cho hiệu quả và công bằng? Việc làm này có giống như việc làm của một ngân hàng?


-"Công ty Kiểm toán quốc tế KPMD": Là công ty nào? Có phải là KPMG?


- "Sẽ sử dụng khấu hao và lãi để trả nợ các khoản vay": Vinashin trả nợ bằng tiền. Khấu hao là con số hạch toán, làm sao dùng để trả nợ được? Nếu dùng khấu hao mà trả được nợ thì Vinashin đâu có khó khăn khi thiếu khách đặt đóng tàu và đã không xãy ra tình trạng hiện nay!


Hy vọng đấy chỉ là lỗi đưa tin của phóng viên. Vì một lãnh đạo có khả năng quản lý tập đoàn lớn, nhất là gánh vác nhiệm vụ trong giai đoạn khó khăn hiện nay, thì khó có thể phạm những sai sót đối với những vấn đề quá đơn giản như trên được.


Thứ Tư, 10 tháng 11, 2010

Lời lỗ và NPV của dự án

Nên cẩn thận khi dùng thuật ngữ 'lời lỗ' và giá trị hiện tại thuần (NPV) để nói về tính hiệu quả của dự án. Một dự án lỗ sẽ cho (NPV) âm, còn dự án lời thì chưa chắc nó dương.


Ví dụ đầu năm dự án đầu tư $100, cuối năm thu được $90. Khỏi cần chiết khấu dòng tiền cũng biết chắc chắn NPV âm;


Giả sử cuối năm dự án thu được số tiền nắm trong khoảng lớn hơn $100 nhưng nhỏ hơn $110 (có nghĩa là dự án có lời). Nhưng nếu dùng suất chiết khấu 10% (mức sinh lới mong muốn hay còn gọi là chi phí cơ hội; nếu nhà đầu tư dùng tiền đầu tư cho cơ hội khác sẽ cho mức sinh lời này) tính NPV thì kết quả sẽ âm.


NPV chỉ dương khi cuối năm dự án cho số tiền lớn hơn $110.


NPV bằng không là lúc dự án cho nhà đầu tư số tiền lời đúng với mong muốn của họ, còn NPV dương có nghĩa dự án cho họ mức lời hơn mức họ mong muốn. Khi NPV âm, thì có hai khả năng xảy ra, hoặc dự án lỗ hoặc có lời nhưng ít hơn mức sinh lời mong muốn của họ.

Thứ Ba, 2 tháng 11, 2010

Tư tưởng làm quan

Tổng Bí thư Nông Đức mạnh từng nói: "chính quyền của chúng ta là chính quyền phục vụ dân chứ không phải cai trị dân", "làm cán bộ lãnh đạo không phải là làm quan". Đó cũng là nội dung của cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay.


Thế nhưng, những "tấm gương mẫu mực đạo đức sáng ngời" lại suy nghĩ hơi khác: "... trên thực tế trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân, nhiều khi phải dùng mệnh lệnh. Mệnh lệnh chính là phương thức thể hiện và sử dụng quyền lực." Bên cạnh đó, đôi lúc cũng nghe những người này tự coi mình là "thủ lĩnh" của thanh niên.


Nếu vẫn còn những suy nghĩ như vậy trong đội ngũ kế thừa thì xem ra công cuộc cải cách hành chính không hề đơn giản!

Chủ Nhật, 31 tháng 10, 2010

Thông tư 22 trong việc ổn định thị trường vàng và ngoại hối

(Đăn trên TBKTSG: http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/nganhang/42939/Ban-khoan-ve-hieu-qua.html)


Có ý kiến Thông tư 22 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) “… sẽ góp phần giúp bình ổn thị trường vàng và ngoại hối trong dài hạn."[1] Quan điểm này giống với NHNN.[2] Ngoài ra, NHNN cho rằng, nó còn có thể giải quyết nạn đô la hóa nền kinh tế. [2]. Liệu thông tư này có dễ thực hiện các mục tiêu vừa nêu?


Thông tư 13 bắt đầu có hiệu lực vào đầu tháng 10/2010. Theo đó, Tỷ lệ khả năng chi trả (tỷ lệ giữa tổng tài sản “Có” thanh toán ngay và tổng Nợ phải trả) của các ngân hàng không được nhỏ hơn 15%. Các ngân hàng được phép tính giá trị sổ sách vàng (tại quỹ và gởi tại NHNN) vào tài sản “Có” thanh toán ngay. Với xu hướng giá vàng tăng và giá trị tiền đồng giảm [3], thay vì giữ tiền đồng không có lợi, các ngân hàng ưu tiên giữ vàng để đảm bảo tỷ lệ 15% này. Điều đó làm tăng nhu cầu vàng, góp phần tạo áp lực lên giá vàng trong nước. Hệ quả là cần ngoại tệ nhập vàng, góp phần gây áp lực lên thị trường ngoại hối.


Thông tư 22, ban hành ngày 28/10/2010, quy định ngân hàng chỉ được phép huy động vốn bằng vàng thông qua phát hành giấy tờ có giá. Như vậy, việc huy động vàng sẽ bị hạn chế. Trong điều kiện giá trị tiền đồng có xu hướng giảm [3], nếu các ngân hàng khó giữ được tài sản “Có” dưới hình thức vàng do bị hạn chế bởi thông tư này, họ sẽ thay nó bằng ngoại tệ. Điều này vẫn tạo áp lực lên thị trường ngoại hối và vẫn làm tăng tình trạng đô la hóa.


Bên cạnh đó, nếu các ngân hàng đề nghị được phát hành giấy tờ có giá để huy động vàng cho mục đích dự trữ thì đấy là mục đính chính đáng, NHNN khó từ chối. Hơn nữa, nếu bị từ chối, các ngân hàng có thể dùng đấy làm lý do cho việc không đạt tỷ lệ 15% nói trên; Còn nếu NHNN cho phép thì nhu cầu vàng vẫn tăng và như vậy vẫn gây áp lực lên thị trường vàng và sau đó là thị trường ngoại hối.


Thông tư 22 xem ra khó đảm đương được vai trò như các chuyên gia và NHNN mong đợi.


[1] http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/tiente/42647/Chuyen-gia-thi-truong-vang-va-ngoai-hoi-se-on-dinh.html


[2] http://vneconomy.vn/20101028080510651P0C6/huy-dong-va-cho-vay-von-bang-vang-vi-sao-phai-siet.htm


[3]http://www.bloomberg.com/news/2010-09-24/vietnam-must-address-concern-dong-may-slide-imf-s-benedict-bingham-says.html

http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=newsarchive&sid=aRtIVOLBPKcg


Thứ Năm, 28 tháng 10, 2010

Về “Bài báo khoa học bị rút khỏi tạp chí quốc tế vì đạo văn”

Đọc bài viết về “Bài báo khoa học bị rút khỏi tạp chí quốc tế vì đạo văn” thấy có mấy vấn đề cần trao đổi:

- “Sau khi bài báo được đăng Thông có cho tôi biết nhưng thời điểm đó tôi cũng chả quan tâm vì có quá nhiều việc phải làm. Thêm nữa, tôi cũng tin tưởng vào chất lượng bài viết khi nó đã được đăng trên một tạp chí uy tín. Tôi cũng nghĩ rằng nhiều khi học trò mượn tên thầy để vào bài viết của mình nên cho qua.”

+ Đối với một nhà khoa học, không biết “nhiều việc phải làm” là gì mà quan trọng hơn cả việc cần phải làm cho ra lẽ công trình khoa học không trung thực liên quan tới mình?

+ Các tạp chí khoa học có uy tín thường nhìn vào nội dung để quyết định đăng bài hơn là danh tiếng của tác giả. Không biết tên ông uy tín cỡ nào trong khoa học để học trò phải mượn danh. Nhưng cũng lạ, sao uy tín cao mà dễ cho mượn đến thế? Điều này làm nghi ngờ ông cũng cần đứng tên nên mới cố tình làm lơ. Mà cho mượn danh như vậy thì có trung thực không nhỉ?

- “Vả lại, nếu tôi là người tham gia vào bài viết này thì hẳn tôi phải là người đứng đầu nhóm tác giả, là người trực tiếp liên lạc để gửi bài cho tạp chí. Bởi so về trình độ và khả năng ngoại ngữ thì tôi phải hơn hẳn Thông chứ."

+ Ai đứng tên đầu là do công lao đóng góp cho bài viết chứ đâu phải do trình độ và khả năng chung chung? Điều này là thông lệ trong giới khoa học quốc tế.

+ Chuyện này cũng vô tình cho ta biết quan điểm của (một) nhà khoa học Việt Nam: đóng góp khoa học không quan trọng bằng anh là ai!

- "Thực ra nói là đạo văn cũng hơi quá bởi trong bài viết có một phần khi trích dẫn Thông đã không nêu rõ nguồn tài liệu tham khảo. Nên vấn đề ở đây là lỗi do cách viết, còn thành quả khoa học thực sự rất có ý nghĩa. Bởi mô hình này được Thông tìm ra có độ chính xác cao hơn gấp 10 lần so với mô hình cũ."

+ “Trích dẫn” mà “không ghi rõ nguồn” thì không phải là đạo văn? Theo cách lập luận này, “lén xin” cũng không phải là “ăn cắp”?

+ Ngoài ra, cho dù mô hình của anh có tốt hơn vạn lần nhưng nếu sử dụng ý tưởng người khác, mà không ghi nguồn thì vẫn là ăn cắp. Đến đây có thể thấy khó mà mượn uy tín của ông để làm cho bài viết dễ được đăng. Bởi lẽ, như thế nào là đạo văn (điều bắt buộc phải biết khi viết các công trình khoa học) xem ra còn xa lạ với ông thì thử hỏi uy tín khoa học làm sao có thể cao được; Còn nếu uy tín khoa học của ông quả thực cao thì những gì ông đang nói hóa ra là ngụy biện?

Thứ Tư, 20 tháng 10, 2010

Lấy ý kiến hay để báo cáo thành tích?

Đồng nghiệp cho hay cơ quan chuẩn bị hội thảo chiến lược phát triển 2010-2015. Thư mời được gởi đi nhiều nới. Điều khó hiểu là những người đang du học không ai được thông báo.


Chắc rằng, Nhà nước muốn giảng viên đi học ở các nước là để nâng cao trình độ và học cái hay từ nhiều nước rồi áp dụng cho Việt Nam. Những hội thảo như thế này là một trong những cơ hội để "trưng dụng" những người này và cũng để kiểm chứng hiệu quả việc đầu tư cho du học. Nhưng xem ra, điều này không xãy ra.


Từ những điều chứng kiến, không hề lạ khi nghe "Trí tuệ dân tộc đang bị lãng phí". Những người tổ chức hội thảo hình như cần nó để báo cáo thành tích hơn là lấy ý kiến.


Ghi chú: Phần nơi gởi trong thư mời được HT ký ghi:

- Các thành viên Ban giám hiệu;

- Các đơn vị trực thuộc trường;

- BCH Hội Cựu sinh viên trường;

- Ngân hàng nhà nước;

- NHTM trên địa bàn TP. HCM;

- Các trường Đại học, Viện Nghiên cứu.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2010

Chất xám mà như chất sền sệt!

Tình cờ phát hiện người bạn có bài trên Journal of Management Studies [1] thấy thật vui. Journal này được xếp hạng A*. Hạng này là cao nhất và rất ít nghiên cứu sinh chưa xong luận án có bài trên đấy. Thậm chí, không phải giảng viên nào dù đã có bằng tiến sỹ và giảng dạy nhiều năm cũng có bài trên đó.


Nhà nước phải chắt chiu tiền để có thể đào tạo hai vạn tiến sỹ thì những người như thế này nên được giao công việc tương xứng. Nhưng, hơn sáu tháng về nước, anh chỉ được phân công dạy như trước khi đi học, thậm chí còn được phân coi thi như giám thị. Thử nghĩ, một người có kiến thức và ngoại ngữ tốt ngồi coi thi, trong khi đó nhiều giáo trình sinh viên cần thì chưa có, nhiều kỹ năng nghiên cứu sinh viên (thậm chí giảng viên) chưa biết... sẽ thấy sự lãng phí ra sao?


Chưa kể, có nhiều công việc người hiện đang làm muốn đổi mới, mà chẳng biết cái gì là mới để đổi, thế nhưng không mạnh dạn phân công người được đào tạo và có năng lực làm!

Không biết chủ trương đào tạo hai vạn tiến sỹ của Nhà nước có tính tới chuyện sử dụng họ như thế nào không? Với cách sử dụng như thế này thì phí tiền đào tạo. Hơn nữa, điều này còn làm cho người được đào tạo luôn ray rứt khi biết mà chẳng được làm!


Muốn viết nhiều nhưng sợ...


[1] được chấp nhận tháng 12/2009

Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

Nhân ngày 20/10

Gần tới ngày 20/10 chợt nhớ tới phong trào thi đua ‘giỏi việc nước, đảm việc nhà’ hoặc ‘hai giỏi’ của các chị phụ nữ. Cuộc thi của các chị thì nên để họ tự lo, đằng này cánh đàn ông cũng phải tham gia bầu bán. Không bầu thì sợ bị đánh giá có vấn đề tư tưởng hoặc coi thường các chị; còn bầu thì... lo.


Giỏi việc nước hay không có lẽ ai cũng thấy, thiết nghĩ không cần bầu nữa. Các sếp cứ nhìn vào thành tích công tác mà đánh giá là được rồi.


“Giỏi” việc nhà thì chắc các sếp không biết (?) nên phải nhờ anh em bầu. Nhưng vấn đề là vợ người ta đâu có ở nhà mình thì sao mình biết có ‘giỏi’ không? Thế thì sao bầu được? Điều lo nhất, lỡ mấy anh chồng thấy vợ họ không ‘giỏi’ nhưng mình bầu ‘giỏi’ rồi suy diễn lung tung thì chẳng biết giải thích sao đây!

Thứ Hai, 11 tháng 10, 2010

Rối!

Ngày 07/10/2010, một chuyên gia viết: “…sau khi những thị trường khác không còn “màu mỡ” trong việc kiếm chênh lệch nhanh, giới đầu cơ nhảy sang vàng, làm khuynh đảo thị trường này ngay tức thì.”; “Mà đỉnh điểm là hôm qua, khi giá vàng trong nước cao hơn thế giới với một mức khó tin, người ta vẫn “ôm tiền đi mua vàng”"; và “Tai hại hơn, giá vàng Việt Nam tăng cao, dẫn đến việc người dân dồn tiền mua vàng, làm lượng tiền để sản xuất càng ít.“


Ngay hôm sau, trả lời phỏng vấn hiện tượng người dân mua đô la trong ngày hôm trước đó (có nghĩa là đúng ngày ông này viết bài nói trên), ông nói: “Giá vàng quá cao, người ta không dám mua vàng. Trong khi đó, các ngân hàng lại đang nâng lãi suất USD lên, thì việc người dân tìm đến USD là điều dễ hiểu.”


Muốn theo dõi tình hình kinh tế trong nước mà đọc mấy bài như thế này thì càng lùng bùng thông tin thêm!

Thứ Bảy, 9 tháng 10, 2010

Suy nghĩ về phản ứng của TQ đối với giải Nobel hòa bình 2010

1. Nếu TQ cho rằng giải thường này vô lý thì tại sao họ ngăn chặn người dân những thông tin về Lưu Hiểu Ba và giải thưởng này? Hãy cho người dân có đầy đủ thông tin để họ biết giải thưởng này sai rồi cùng lên tiếng thì có phải sẽ là ý kiến của "ý đảng, lòng dân" không?

2. TQ cho rằng dân chủ TQ có đặc thù riêng, khác với dân chủ phương Tây. Cứ cho như thế là đúng, thì việc phương Tây trao giải hòa bình này nằm ngoài lãnh thổ TQ, cho nên theo tiêu chuẩn của họ chứ đâu có theo tiêu chuẩn TQ, cớ sao lại bị TQ phản đối? Việc TQ phản đối cho thấy các tổ chức hoạt động bên ngoài mà còn không tự do thì nói chi trong lãnh thổ TQ? Nên nhớ, đây là giải thưởng từ một tổ chức có uy tín 110 năm nay, được thế giới thừa nhận (kể cả TQ, trừ năm nay).

Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2010

Kỹ năng đọc bằng máy!

Để nghiên cứu, cần phải biết trước tác (literature) người ta đã làm gì. Giả sử bạn có 500 bài viết từ các journal. Mỗi bài dài trung bình 25 trang. Nếu đọc hết số bài này thì... điên mất. Mà không đọc sao biết người ta làm gì rồi?

Mình có một mẹo nhỏ như vầy:

1. Download Google desktop về cài vào máy (cái này Tks anh Nguyễn Quang Trung ĐH Mở).

2. Dùng Google desktop để search bài có từ khóa mình định tìm trong máy của mình. Ví dụ bạn muốn tìm coi bài nào có nói về information asymmetries trong máy mình (chứa 500 bài báo nói trên). Ví dụ máy báo có 100 bài có nói về chủ đề này.

2. Click vào từng bài của 100 bài nói trên và dùng Ctrl F tìm từ khóa information asymmetries. Nếu bài nào xuất hiện từ khóa thường xuyên thì bạn chọn nó để qua một bên còn bài nào xuất hiện từ khóa này một vài lần thì có thể coi như ít liên quan chủ đề bạn muốn nghiên cứu do đó lơ chúng đi. Nhờ cách làm này bạn có thể loại bỏ được nhiều bài ít hoặc không liên quan tới chủ đề của bạn. Ví dụ còn 30 bài liên quan.

3. 30 bài liên quan này, trước khi đi vào đọc chi tiết bạn có thể đọc tóm tắt, lời nói đầu và kết luận của chúng trước. Có thể bạn sẽ phát hiện vài bài thật sự liên quan tới mình.

Như vậy bạn đã loại một số lượng đáng kể các bài ít hoặc không liên quan tớ chủ đề của bạn một cách nhanh chóng và hiệu quả.

Chủ Nhật, 3 tháng 10, 2010

Tự hào, tự ti không đúng chỗ

Đôi khi nhận ra nhược điểm của người Việt, bạn nói lên sẽ bị bạn bè cho rằng bạn vọng ngoại. Họ có thể đưa ra 1001 lý do tự hào dân tộc, cho thấy Việt Nam không thua kém ai và như vậy nhược điểm đó không đáng để ý.


Lúc khác, bạn nói về những mong muốn của bạn về một số vấn đề trong nước, như chất lượng cao đáng lẽ nên có của một công trình xây dựng, sự nghiêm túc cần thiết của một cuốn sách... thì bạn lại được nghe trả lời: Tiêu chuẩn nước mình mà hoặc Việt Nam mà...! Tại sao lúc này họ lại cho phép mình xúc phạm niềm tự hào dân tộc? Việt Nam đáng tự hào đâu rồi để phải chấp nhận một Việt Nam thì... như thế ?!


"Thương cho roi cho vọt". Tôi ủng hộ các bạn yêu, nghiêm khắc và không tự hào Việt Nam một cách dễ dãi; vì sự hoàn hảo của Việt Nam.

Thứ Tư, 22 tháng 9, 2010

Chưa hiểu

Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trình Đại hội XI khẳng định “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Có lẽ đã là sự lựa chọn đúng đắn cho nên không cần phải “bàn lui” nữa nên văn bản số 112-HD/BTGTW của Ban Tuyên giáo Trung ương quy định: “Không đăng và phát trên các phương tiện thông tin đại chúng những ý kiến phản bác chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về học thuyết Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, về vai trò lãnh đạo của Đảng

Căn cứ những điều trên, không biết các ý kiến thế này có hợp lệ không:

-nên bỏ cụm từ 'Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo'

- “Luận điểm “loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” chỉ nên xem là một phán đoán để ngỏ, đúng như thực chất của nó. Phán đoán này vốn không có ý nghĩa chính trị thiết thực (không đề cập gì về thời gian, không gian, thời điểm, các lực lượng tác động, các phương thức), vì vậy, càng không thể được coi là luận điểm xuất phát để xây dựng cương lĩnh chính trị. Tốt nhất là đưa khỏi dự thảo cương lĩnh một phán đoán chưa đủ cơ sở lý luận và căn cứ thực tiễn như vậy để tránh lầm lẫn trong nhận thức.

- “Góp ý cho Đảng thì không thể có vùng cấm

-"thực tiễn phát triển thế giới từ xưa tới nay và trong xu thế phát triển trong thế kỷ 21 chưa chứng tỏ là các nước tiến tới một xã hội có nền kinh tế mà chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là chủ yếu (trừ Việt Nam và một vài nước), mà nền kinh tế các nước đang tiến tới là nền kinh tế phải có hiệu quả là chủ yếu."


- "Mọi tư duy đi tìm một mô hình xã hội theo khuôn mẫu định sẵn cho tương lai, đều không thực tế và không biện chứng."


- "Không thể đánh tráo hai vấn đề: Sự không “trường tồn” của chủ nghĩa tư bản và “loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”."


- "Nhìn rộng ra thế giới, chưa có nước nào thiết lập chế độ công hữu đối với phần lớn tư liệu sản xuất chủ yếu, lấy kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể làm nền tảng (được coi là theo mô hình xã hội chủ nghĩa) mà nền kinh tế phát triển vững chắc, có hiệu quả và sức cạnh tranh cao, phát huy được toàn diện tiềm năng của con người. Do quan hệ sản xuất theo mô hình này không phù hợp với quy luật, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất nên trình độ phát triển cả về kinh tế và công nghệ của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây thua kém nhiều nước phát triển được coi là theo chủ nghĩa tư bản. Đó là một sự thật hiển nhiên."

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2010

Cảm nghĩ về email cơ quan

Tuần nào mình cũng check email cơ quan coi có thông báo gì mới nhưng lần nào trong inbox cũng vỏn vẹn có 5 cái email cũ mà mình nhận lại sau khi gởi đi để test lúc ban đầu. Sáng nay để ý kỹ thấy chỉ với 5 email đó nhưng được thông báo dùng hết 5% quota rồi!


Trang web và email nói trên vừa được xây dựng lại cách đây vài tháng với một số tiền kha khá.


Cơ quan mình là một trường đại học không nhỏ, có bề dày đào tạo mấy chục năm mà còn có tình trạng trên thì con đường cải cách hành chính và thực hành chính phủ điện tử chắc còn nhiều gian nan lắm!

Thứ Sáu, 3 tháng 9, 2010

Thấy gì qua phát biểu của Phó Tổng giám đốc Vietcombank

Khi Vietcombank bị hạ bậc lập tức Phó Tổng giám đốc Phạm Quang Dũng nói "cơ quan này không có mặt ở Việt Nam, không có điều kiện sâu sát thực tế của Việt Nam cũng như hoạt động của các ngân hàng. Vì vậy, đánh giá của Fitch chưa thật chính xác và không phù hợp với thực tiễn".


Vấn đề đặt ra là, một trong những vai trò của ngân hàng thương mại là trung gian thông tin, trong đó có việc minh bạch thông tin của mình để những người gởi tiền và các nhà đầu tư có cơ sở và tin cậy để gởi tiền và đầu tư vào. Ngoài ra, Vietcombank là một ngân hàng chuyên kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực ngoại thương. Cho nên, nếu Vietcombank để xảy ra tình trạng các tổ chức quốc tế, không hoạt động ở Việt Nam, không rõ hoạt động của mình thì ngân hàng này xứng đáng bị hạ nhiều bậc chứ không chỉ nửa bậc.


Nên nhớ, Vietcombank vẫn còn hơn 90% vốn của nhà nước, cho nên vẫn được coi là thành phần kinh tế nhà nước và như vậy phải có vai trò chủ đạo trong lĩnh vực hoạt động của mình. [3] Trong trường hợp này, có lẽ phải xem lại vai trò chính trị của Vietcombank trên trường quốc tế.


Một đất nước đang trong quá trình hội nhập mà lãnh đạo ngân hàng bậc nhất còn đổ thừa như con nít như vậy thì đáng lo lắm thay.


(Để ý thêm: khi được ca ngợi như "Báo Cuba đăng bài ca ngợi thành tựu của Việt Nam" thì không thấy ai nói nhà báo Cuba đâu có sống ở Việt Nam nên biết gì mà ca ngợi?


Như một phản xạ tự nhiên ấu trĩ, ai nói gì không như ta mong muốn thì: do... chưa hiểu ta? Thế thì tại sao ta không làm cho họ hiểu nhỉ?)

Thứ Hai, 30 tháng 8, 2010

Đặt Quốc hội vào chuyện đã rồi?

Có thông tin Tổng công ty Đường sắt Việt Nam "sẽ chủ động phối hợp với đối tác Nhật Bản để lập dự án đầu tư xây dựng hai đoạn tuyến đường sắt Hà Nội - Vinh, Tp.HCM - Nha Trang (thuộc dự án đường sắt cao tốc Hà Nội – Tp.HCM), và dự án đường sắt Ngọc Hồi - Nội Bài" và "các dự án trên có thể sẽ bắt đầu được nghiên cứu khả thi vào tháng 11/2010 và kết thúc vào quý 1/2012". Điều này hiện gây bất ngờ cho nhiều đại biểu Quốc hội.


Được biết Văn phòng chính Phủ cũng có công văn về vấn đề này.


Theo Khoản 1, Điều 5 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/2/2009 của Chính phủ về Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình thì "Đối với các dự án quan trọng quốc gia, chủ đầu tư phải lập Báo cáo đầu tư xây dựng công trình trình Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư" trước khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi.


Các dự án đường sắt nói trên hẳn là các dự án quan trọng quốc gia (xem Nghị Quyết số 49/2010/QH12).


Vậy, không biết trong trường hợp này, Chính phủ và Tổng công ty Đường sắt Việt Nam có định qua mặt và đặt Quốc hội vào chuyện đã rồi?

Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2010

Vinashin, đảo nợ và phát biểu của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Theo quy chế cho vay hiện hành (khoản 2, điều 9) thì cho vay đảo nợ được thực hiện theo văn bản khác của Ngân hàng Nhà nước. Nhưng cho đến nay, chưa có văn bản nào quy định loại cho vay này. Vì vậy, có thể nói chưa có cơ sở pháp lý cho việc cho vay đảo nợ.

Hơn nữa, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng khẳng định: “cho vay doanh nghiệp tại một ngân hàng để trả nợ cho chính ngân hàng đó hoặc trả nợ cho một ngân hàng khác, được coi là hành vi đảo nợ” và “ Luật pháp nghiêm cấm triệt để hành vi đảo nợ trong bất luận trường hợp nào. Bởi vì, một nền kinh tế chấp nhận cho vay đảo nợ, tức là chấp nhận cách làm ăn không mang lại hiệu quả, đồng thời gây thất thoát tài sản, chưa kể gây rối ren trong công tác quản lý”.

Tuy nhiên, với Vinashin, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cho biết “bằng các nguồn tài chính thích hợp cho Vinashin vay để trả nợ nước ngoài đến hạn, cơ cấu lại nợ tín dụng”.

Vậy, trong trường hợp Vinashin nói trên, Chính phủ có phạm luật hoặc có mâu thuẫn với phát biểu của người đứng đầu tổ chức chuyên ban hành các quy định trong hoạt động tín dụng?

Thứ Tư, 25 tháng 8, 2010

Ý kiến về các quy định cho thuê tài chính hiện hành

(Bài đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 19 (10/2010))


Bài viết nhằm góp ý cho Nghị định 16/2001/NĐ-CP, Nghị định 65/2005/NĐ-CP (sửa đồi bổ sung Nghị định 16) và Thông tư 06/2005/TT-NHNN về ba vấn đề: (1) các điều kiện xác định một giao dịch cho thuê tài chính, (2) tên gọi công ty cho thuê và (3) xử lý chấm dứt hợp đồng trước hạn.

Thứ nhất, các điều kiện xác định một giao dịch cho thuê tài chính theo Nghị định 65 vừa không giống với với thông lệ quốc tế đã được Việt Nam chấp nhận vừa không chuẩn xác về ý nghĩa kinh tế.

Theo Điều 1, Nghị định 65, "Một giao dịch cho thuê tài chính phải thoả mãn một trong những điều kiện sau đây:

a) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên;

b) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại;

c) Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê;

d) Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng".

Trong khi đó, 4 điều kiện đầu, tại Mục 10 của Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế số 17 (International Accounting Standards 17- IAS 17) đã được Việt Nam vận dụng, thể hiện trong Mục 09, Chuẩn mực kế toán số 6 (ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC) như sau:

“a) Bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi hết thời hạn thuê;

b) Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, bên thuê có quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê với mức giá ư ớc tính thấp hơn giá trị hợp lý vào cuối thời hạn thuê.

c) Thời hạn thuê tài sản chiếm phần lớn thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cho dù không có sự chuyển giao quyền sở hữu;

d) Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu chiếm phần lớn giá trị hợp lý của tài sản thuê;”

Thoạt nhìn có vẻ các điều kiện trong hai văn bản trên giống nhau. Tuy nhiên, nếu để ý sẽ thấy các điều kiện a), c) và d) của Nghị định 65 khác với các điều khoản tương ứng của Chuẩn mực kế toán số 6.

Đành rằng, Nghị định của Chính phủ có giá trị pháp lý cao hơn và có thể khác, thậm chí phủ định Chuẩn mực kế toán số 6 (theo Quyết định của Bộ tài chính) nhưng trong trường hợp này có mấy chỗ cần trao đổi:

- Dù có sự khác biệt, nhưng Nghị định 65 (kể cả Nghị định 16 cũng như Thông tư 06) không xác định rõ có phủ định Chuẩn mực kế toán số 6 hay không. Điều này, trong một số trường hợp, có thể gây ra sự đánh đố cho các doanh nghiệp nếu họ muốn hoàn toàn tuân thủ pháp luật; bởi người đi thuê lẫn công ty cho thuê phải hạch toán theo chuẩn mực kế toán, đồng thời họ lại phải tuân thủ các văn bản trên.

- Các điều kiện xác định một giao dịch cho thuê tài chính của Nghị định 65 không nên khác với Chuẩn mực kế toán số 6. Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và cũng đang chấp nhận nhiều chuẩn mực kế toán quốc tế để xây dựng chuẩn mực kế toán cho mình. Chúng ta chỉ không chấp nhận các tiêu chuẩn này khi nào chúng hoàn toàn không phù hợp với nền kinh tế Việt Nam và chúng ta có tiêu chuẩn khác tốt hơn. Trong trường hợp này, không thấy có lý do như thế để ủng hộ cho sự khác biệt. Thậm chí, còn có một số điều không ổn trong các điều kiện này ở Nghị định 65:

+ Quy định “hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên” ở điều kiện a) là dư và không chính xác.

Nguyên tắc cơ bản để phân biệt một giao dịch cho thuê là thuê tài chính hay thuê vận hành nằm ở chổ phần lớn các lợi ích và rủi ro liên quan tới tài sản thuộc về bên nào; nếu thuộc về bên đi thuê thì đó là cho thê tài chính, còn nếu là bên cho thuê thì đó là cho thuê vận hành. Ngoài ra, việc phân biệt này phải được thực hiện ngay lúc bắt đầu giao dịch để căn cứ vào đó các bên liên quan sẽ tuân thủ các quy định kế toán dành riêng cho mỗi loại cho thuê.[1]

Như vậy, nếu ngay ban đầu hợp đồng thuê có thỏa thuận việc thuê tiếp và thời hạn thuê ban đầu đủ dài để chứng tỏ lợi ích và rủi ro liên quan đến tài sản thuộc về người thuê thì hẳn trường hợp này thuộc điều kiện c).

Còn nếu như hợp đồng cho thuê có việc thỏa thuận thuê tiếp nhưng thời gian thuê ban đầu không đủ dài để chứng tỏ lợi ích và rủi ro liên quan đến tài sản thuộc về người thuê thì có hai khả năng có thể xảy ra:

(i) Thời gian thỏa thuận thuê tiếp cũng ngắn, làm cho tổng thời gian thuê chưa đủ dài để người đi thuê gắn với lợi ích và rủi ro liên quan tới tài sản: Trong trường hợp này, e rằng khó thuyết phục khi cho đó là cho thuê tài chính.

(ii) Thời hạn cho thuê tiếp dài đủ để cộng với thời hạn thuê ban đầu làm cho người đi thuê gắn lợi ích và rủi ro liên quan tới tài sản và nếu thỏa thuận thuê tiếp này là một cam kết phải thực hiện thì hoàn toàn có thể gộp nó với thời hạn thuê ban đầu để trở thành thời hạn thuê chung và như vậy sẽ rơi vào điều kiện c); còn nếu thỏa thuận này là một quyền chọn, có nghĩa là có thể thực hiện hoặc không thực hiện thì việc có thuê tiếp hay không sau này mới rõ. Thế thì làm sao có thể dùng nó để xác định một giao dịch cho thuê là thuê tài chính hay không, khi mà việc xác định này cần thực hiện ngay từ đầu giao dịch để các bên liên quan lựa chọn tuân thủ các quy định về kế toán và thuế, thậm chí các quy định khác của Nghị định 65.

Tóm lại, điều kiện a) trong Nghị định 65 nên quy định giống như Chuẩn mực kế toán số 6, có nghĩa là bỏ cụm từ “hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên”.

+ Sử dụng “thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê” để xác định giao dịch cho thuê tài chính là không phù hợp, mà phải là “thời gian sử dụng kinh tế của tài sản”.[2]

Thời gian sử dụng kinh tế của tài sản là khoảng thới gian bắt đầu lúc tài sản được đưa vào sử dụng và kết thúc khi chi phí vận hành nó lớn hơn lợi ích của nó mang lại. Thời gian sử dụng kinh tế của tài sản có thể ước tính dựa trên các thông số kỹ thuật của nó. Thời gian cần thiết để khấu hao tài sản phụ thuộc vào thời gian sử dụng kinh tế của tài sản, chính sách quản trị tài chính của doanh nghiệp và các quy định của nhà nước.

Ví dụ một tài sản, theo thông số kỹ thuật ước tính có thời gian sử dụng kinh tế là 20 năm và theo quy định của Bộ Tài chính tài sản này không được khấu hao quá 10%/năm. Trong tình huống này, doanh nghiệp có thể lựa chọn để khấu hao tài sản trong phạm vị từ 10 tới 20 năm. Như vậy, nếu dùng thời gian cần thiết để khấu hao tài sản làm tiêu chuẩn so sánh thì phải dùng con số nào trong khoản thời gian 10 tới 20 năm. Nếu nói rằng chọn thời gian doanh muốn nghiệp khấu hao tài sản này để so sánh thì cũng không ổn do doanh nghiệp có thể thay đổi thời gian mình muốn khấu hao để cho giao dịch cho thuê được coi là cho thuê tài chính hay không. Lúc này, việc phân biệt cho thuê tài chính với thuê vận hành lại phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người đi thuê chứ không phải phụ thuộc vào việc họ có gắn với lợi ích rủi ro liên quan tới tài sản hay không.

Trở lại ví dụ vừa nêu, giả sử tài sản được thuê với thời hạn là 6 năm. Nếu người đi thuê không muốn giao dịch cho thuê là thuê tài chính thì họ có thể nói thời gian họ khấu hao tài sản trên 10 năm để làm cho thời hạn thuê nhỏ hơn 60% thời hạn khấu hao. Còn nếu muốn coi đây là giao dịch cho thê tài chính thì người đi thuê có thể khai rằng thời gian khấu hao tài sản là 10 năm, để cho thời hạn hợp đồng cho thuê thỏa đúng bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản. Thế nhưng cần thấy rằng, khoảng thời gian thuê 6 năm chiếm chưa tới 1/3 thời gian sử dụng kinh tế của tài sản vì vậy chưa thể nói rủi ro và lợi ích của nó thuộc về người đi thuê.

Ngoài ra, bên nào khấu hao tài sản để từ đó xác định thời gian khấu hao tài sản phụ thuộc vào loại cho thuê: Đối với cho thuê tài chính thì người đi thuê khấu hao tài sản nên họ quyết định thời gian khấu hao; còn đối với cho thuê vận hành, người cho thuê khấu hao tài sản và quyết định thời gian này. Nhưng muốn biết giao dịch cho thuê thuộc loại cho thuê nào lại cần phải có thời gian cần thiết để khấu hao tài sản. Vấn đề này giống một cái vòng lẫn quẩn.

+ Điều kiện d) của Nghị định 65 có hai điểm chưa chuẩn:

Tiền thuê được thanh toán ở những năm khác nhau, nên cho dù cùng số tiền danh nghĩa, vẫn có giá trị khác nhau. Vì thế phép cộng đơn giản như vậy sẽ không có ý nghĩa kinh tế. Do đó, sử dụng “hiện giá các khoản tiền thuê” (như trong Chuẩn mực kế toán số 6) thay cho “tổng số tiền thuê” sẽ chuẩn hơn.

Ngoài ra, trong điều kiện này, nếu xác định là “hợp đồng cho thuê tài chính” rồi thì giao dịch hẳn phải thỏa một trong ba điều kiện a), b) hoặc c) ở trên, vậy có cần thiết điều kiện thứ tư này nữa không? Có lẽ, ở đây, đúng ra phải là “hợp đồng cho thuê” chứ không phải “hợp đồng cho thuê tài chính”.

Thứ hai, tên các công ty thực hiện hoạt động cho thuê được các văn bản nói trên gọi là “công ty cho thuê tài chính” là chưa chuẩn xác.

Trước hết, hoạt động cho thuê, theo quy định hiện hành, không chỉ gồm cho thuê tài chính (financial lease) mà còn cả cho thê vận hành (operating lease). Cho nên, tên gọi là “công ty cho thuê tài chính” sẽ phản ánh phiến diện nội dung hoạt động của các công ty này.

Ngoài ra, hiện có tới 11 trong số 13 công ty cho thuê hoạt động ở Việt Nam có tên tiếng Anh là “leasing company”.[3] Cách gọi “leasing” cho hoạt động cho thuê nói chung (gồm cả cho thuê tài chính và cho thuê vận hành) giống với cách gọi của nhiều công ty trên thế giới.[4] Thế nhưng, nghĩa tiếng Việt của “leasing company” không phải là “công ty cho thuê tài chính”, mà là “công ty cho thuê”; “financial leasing company” mới có nghĩa là “công ty cho thuê tài chính”.

Do vậy, thay vì gọi các công ty nói trên là “công ty cho thê tài chính” thì nên đổi tên thành “công ty cho thuê” để vừa đúng với nội dung hoạt động của chúng, đồng thời cũng phù hợp với tên gọi phổ biến của các công ty này trên thế giới.

Thứ ba, quy định xử lý chấm dứt hợp đồng trước hạn của ba văn bản trên còn mấy điểm cần bàn:

Trước hết, toàn bộ các văn bản trên chỉ quy định xử lý chấm dứt hợp đồng trước thời hạn đối với cho thê tài chính nhưng không đề cập đến trường hợp cho thuê vận hành. Vậy, khi rủi ro này phát sinh thì các công ty cho thuê có thể áp dụng các quy định của cho thuê tài chính không?

Ngoài ra, quy định việc thanh toán số tiền còn thiếu theo hợp đồng như hiện nay là không thỏa đáng đối với người đi thuê. Lý do là số tiền còn thiếu theo hợp đồng sẽ được thanh toán dần dần cho đến cuối thời hạn thuê. Nếu chấm dứt hợp đồng trước hạn mà phải trả ngay hết số tiền thuê thì e không hợp lý vì đã không tính đến yếu tố giá trị tiền tệ theo thời gian. Biết rằng, bên cho thê cần phải được hưởng lãi trong việc cho thuê nhưng việc hưởng lãi (theo hợp đồng) phải diễn ra cho đến hết thời gian thuê. Nếu thu hồi hết tiền thanh toán theo hợp đồng sớm thì người đi thuê vừa có lợi vì không cần chờ đến chấm dứt hợp đồng mà lại có thể lấy tiền này tái đầu tư và tiếp tục hưởng lãi. Đứng về phía người đi thuê đây là một áp lực rất lớn và không công bằng với họ.

Người đi thuê có lỗi để dẫn đến chấm dứt hợp đồng trước hạn thì phải chịu phạt để bồi thường thiệt hại cho người cho thuê là điều tất yếu, nhưng nếu quy định như hiện nay để trừng phạt họ thì chưa hợp lý. Ở đây cần tính đến yếu tố giá trị tiền tệ theo thời gian và thiệt hại của người đi thuê để phạt người đi thuê có thể sẽ phù hợp hơn.

Tóm lại, các điều kiện phân biệt giao dịch cho thê tài chính của Nghị định 65 cần phải được sửa đổi cho phù hợp hơn. Tên gọi của các công ty thực hiện hoạt động cho thuê nên gọi là “công ty cho thuê” thì chuẩn hơn “công ty cho thê tài chính”. Ngoài ra, nên cân nhắc yếu tố giá trị tiền tệ theo thời gian trong việc quy định việc thanh toán nợ còn thiếu khi hợp đồng cho thuê chấm dứt trước hạn.



[1] Chi tiến hơn, xem Chuẩn mực kế toán số 6.



[2] Thuật ngữ tài sản trong trường hợp này ám chỉ tài sản cố định.



[3] Website Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: http://www.sbv.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c5/hY2xDoIwGISfyPQKLcWxIJQfDQhGRRbSwRgSAQfj81uNLibq3Xj57mMtcx3trT_Zaz-N9swa1gYdFmKuUilQal-CyijfFmtCKbnbD0EXG50JtQJMXsUgk29CEXEA6g-9f_h-88-HL9F47W8DqqVwBuFTnex4SN7HP-CloJDXvE5llBjJimwajuwyNOhppu-8k7Y6/dl3/d3/L2dJQSEvUUt3QS9ZQnZ3LzZfMEQ0OTdGNTQwT0EzNTBJT0JKVU5QSTBPMzI!/



[4] Ví dụ như tên các công ty cho thuê ở Châu Âu, xem: http://www.leaseurope.org/uploads/pr121009.pdf