Danh sách Blog của Tôi

Thứ Tư, 25 tháng 8, 2010

Ý kiến về các quy định cho thuê tài chính hiện hành

(Bài đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 19 (10/2010))


Bài viết nhằm góp ý cho Nghị định 16/2001/NĐ-CP, Nghị định 65/2005/NĐ-CP (sửa đồi bổ sung Nghị định 16) và Thông tư 06/2005/TT-NHNN về ba vấn đề: (1) các điều kiện xác định một giao dịch cho thuê tài chính, (2) tên gọi công ty cho thuê và (3) xử lý chấm dứt hợp đồng trước hạn.

Thứ nhất, các điều kiện xác định một giao dịch cho thuê tài chính theo Nghị định 65 vừa không giống với với thông lệ quốc tế đã được Việt Nam chấp nhận vừa không chuẩn xác về ý nghĩa kinh tế.

Theo Điều 1, Nghị định 65, "Một giao dịch cho thuê tài chính phải thoả mãn một trong những điều kiện sau đây:

a) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên;

b) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại;

c) Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê;

d) Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng".

Trong khi đó, 4 điều kiện đầu, tại Mục 10 của Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế số 17 (International Accounting Standards 17- IAS 17) đã được Việt Nam vận dụng, thể hiện trong Mục 09, Chuẩn mực kế toán số 6 (ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC) như sau:

“a) Bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi hết thời hạn thuê;

b) Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, bên thuê có quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê với mức giá ư ớc tính thấp hơn giá trị hợp lý vào cuối thời hạn thuê.

c) Thời hạn thuê tài sản chiếm phần lớn thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cho dù không có sự chuyển giao quyền sở hữu;

d) Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu chiếm phần lớn giá trị hợp lý của tài sản thuê;”

Thoạt nhìn có vẻ các điều kiện trong hai văn bản trên giống nhau. Tuy nhiên, nếu để ý sẽ thấy các điều kiện a), c) và d) của Nghị định 65 khác với các điều khoản tương ứng của Chuẩn mực kế toán số 6.

Đành rằng, Nghị định của Chính phủ có giá trị pháp lý cao hơn và có thể khác, thậm chí phủ định Chuẩn mực kế toán số 6 (theo Quyết định của Bộ tài chính) nhưng trong trường hợp này có mấy chỗ cần trao đổi:

- Dù có sự khác biệt, nhưng Nghị định 65 (kể cả Nghị định 16 cũng như Thông tư 06) không xác định rõ có phủ định Chuẩn mực kế toán số 6 hay không. Điều này, trong một số trường hợp, có thể gây ra sự đánh đố cho các doanh nghiệp nếu họ muốn hoàn toàn tuân thủ pháp luật; bởi người đi thuê lẫn công ty cho thuê phải hạch toán theo chuẩn mực kế toán, đồng thời họ lại phải tuân thủ các văn bản trên.

- Các điều kiện xác định một giao dịch cho thuê tài chính của Nghị định 65 không nên khác với Chuẩn mực kế toán số 6. Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và cũng đang chấp nhận nhiều chuẩn mực kế toán quốc tế để xây dựng chuẩn mực kế toán cho mình. Chúng ta chỉ không chấp nhận các tiêu chuẩn này khi nào chúng hoàn toàn không phù hợp với nền kinh tế Việt Nam và chúng ta có tiêu chuẩn khác tốt hơn. Trong trường hợp này, không thấy có lý do như thế để ủng hộ cho sự khác biệt. Thậm chí, còn có một số điều không ổn trong các điều kiện này ở Nghị định 65:

+ Quy định “hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên” ở điều kiện a) là dư và không chính xác.

Nguyên tắc cơ bản để phân biệt một giao dịch cho thuê là thuê tài chính hay thuê vận hành nằm ở chổ phần lớn các lợi ích và rủi ro liên quan tới tài sản thuộc về bên nào; nếu thuộc về bên đi thuê thì đó là cho thê tài chính, còn nếu là bên cho thuê thì đó là cho thuê vận hành. Ngoài ra, việc phân biệt này phải được thực hiện ngay lúc bắt đầu giao dịch để căn cứ vào đó các bên liên quan sẽ tuân thủ các quy định kế toán dành riêng cho mỗi loại cho thuê.[1]

Như vậy, nếu ngay ban đầu hợp đồng thuê có thỏa thuận việc thuê tiếp và thời hạn thuê ban đầu đủ dài để chứng tỏ lợi ích và rủi ro liên quan đến tài sản thuộc về người thuê thì hẳn trường hợp này thuộc điều kiện c).

Còn nếu như hợp đồng cho thuê có việc thỏa thuận thuê tiếp nhưng thời gian thuê ban đầu không đủ dài để chứng tỏ lợi ích và rủi ro liên quan đến tài sản thuộc về người thuê thì có hai khả năng có thể xảy ra:

(i) Thời gian thỏa thuận thuê tiếp cũng ngắn, làm cho tổng thời gian thuê chưa đủ dài để người đi thuê gắn với lợi ích và rủi ro liên quan tới tài sản: Trong trường hợp này, e rằng khó thuyết phục khi cho đó là cho thuê tài chính.

(ii) Thời hạn cho thuê tiếp dài đủ để cộng với thời hạn thuê ban đầu làm cho người đi thuê gắn lợi ích và rủi ro liên quan tới tài sản và nếu thỏa thuận thuê tiếp này là một cam kết phải thực hiện thì hoàn toàn có thể gộp nó với thời hạn thuê ban đầu để trở thành thời hạn thuê chung và như vậy sẽ rơi vào điều kiện c); còn nếu thỏa thuận này là một quyền chọn, có nghĩa là có thể thực hiện hoặc không thực hiện thì việc có thuê tiếp hay không sau này mới rõ. Thế thì làm sao có thể dùng nó để xác định một giao dịch cho thuê là thuê tài chính hay không, khi mà việc xác định này cần thực hiện ngay từ đầu giao dịch để các bên liên quan lựa chọn tuân thủ các quy định về kế toán và thuế, thậm chí các quy định khác của Nghị định 65.

Tóm lại, điều kiện a) trong Nghị định 65 nên quy định giống như Chuẩn mực kế toán số 6, có nghĩa là bỏ cụm từ “hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên”.

+ Sử dụng “thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê” để xác định giao dịch cho thuê tài chính là không phù hợp, mà phải là “thời gian sử dụng kinh tế của tài sản”.[2]

Thời gian sử dụng kinh tế của tài sản là khoảng thới gian bắt đầu lúc tài sản được đưa vào sử dụng và kết thúc khi chi phí vận hành nó lớn hơn lợi ích của nó mang lại. Thời gian sử dụng kinh tế của tài sản có thể ước tính dựa trên các thông số kỹ thuật của nó. Thời gian cần thiết để khấu hao tài sản phụ thuộc vào thời gian sử dụng kinh tế của tài sản, chính sách quản trị tài chính của doanh nghiệp và các quy định của nhà nước.

Ví dụ một tài sản, theo thông số kỹ thuật ước tính có thời gian sử dụng kinh tế là 20 năm và theo quy định của Bộ Tài chính tài sản này không được khấu hao quá 10%/năm. Trong tình huống này, doanh nghiệp có thể lựa chọn để khấu hao tài sản trong phạm vị từ 10 tới 20 năm. Như vậy, nếu dùng thời gian cần thiết để khấu hao tài sản làm tiêu chuẩn so sánh thì phải dùng con số nào trong khoản thời gian 10 tới 20 năm. Nếu nói rằng chọn thời gian doanh muốn nghiệp khấu hao tài sản này để so sánh thì cũng không ổn do doanh nghiệp có thể thay đổi thời gian mình muốn khấu hao để cho giao dịch cho thuê được coi là cho thuê tài chính hay không. Lúc này, việc phân biệt cho thuê tài chính với thuê vận hành lại phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người đi thuê chứ không phải phụ thuộc vào việc họ có gắn với lợi ích rủi ro liên quan tới tài sản hay không.

Trở lại ví dụ vừa nêu, giả sử tài sản được thuê với thời hạn là 6 năm. Nếu người đi thuê không muốn giao dịch cho thuê là thuê tài chính thì họ có thể nói thời gian họ khấu hao tài sản trên 10 năm để làm cho thời hạn thuê nhỏ hơn 60% thời hạn khấu hao. Còn nếu muốn coi đây là giao dịch cho thê tài chính thì người đi thuê có thể khai rằng thời gian khấu hao tài sản là 10 năm, để cho thời hạn hợp đồng cho thuê thỏa đúng bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản. Thế nhưng cần thấy rằng, khoảng thời gian thuê 6 năm chiếm chưa tới 1/3 thời gian sử dụng kinh tế của tài sản vì vậy chưa thể nói rủi ro và lợi ích của nó thuộc về người đi thuê.

Ngoài ra, bên nào khấu hao tài sản để từ đó xác định thời gian khấu hao tài sản phụ thuộc vào loại cho thuê: Đối với cho thuê tài chính thì người đi thuê khấu hao tài sản nên họ quyết định thời gian khấu hao; còn đối với cho thuê vận hành, người cho thuê khấu hao tài sản và quyết định thời gian này. Nhưng muốn biết giao dịch cho thuê thuộc loại cho thuê nào lại cần phải có thời gian cần thiết để khấu hao tài sản. Vấn đề này giống một cái vòng lẫn quẩn.

+ Điều kiện d) của Nghị định 65 có hai điểm chưa chuẩn:

Tiền thuê được thanh toán ở những năm khác nhau, nên cho dù cùng số tiền danh nghĩa, vẫn có giá trị khác nhau. Vì thế phép cộng đơn giản như vậy sẽ không có ý nghĩa kinh tế. Do đó, sử dụng “hiện giá các khoản tiền thuê” (như trong Chuẩn mực kế toán số 6) thay cho “tổng số tiền thuê” sẽ chuẩn hơn.

Ngoài ra, trong điều kiện này, nếu xác định là “hợp đồng cho thuê tài chính” rồi thì giao dịch hẳn phải thỏa một trong ba điều kiện a), b) hoặc c) ở trên, vậy có cần thiết điều kiện thứ tư này nữa không? Có lẽ, ở đây, đúng ra phải là “hợp đồng cho thuê” chứ không phải “hợp đồng cho thuê tài chính”.

Thứ hai, tên các công ty thực hiện hoạt động cho thuê được các văn bản nói trên gọi là “công ty cho thuê tài chính” là chưa chuẩn xác.

Trước hết, hoạt động cho thuê, theo quy định hiện hành, không chỉ gồm cho thuê tài chính (financial lease) mà còn cả cho thê vận hành (operating lease). Cho nên, tên gọi là “công ty cho thuê tài chính” sẽ phản ánh phiến diện nội dung hoạt động của các công ty này.

Ngoài ra, hiện có tới 11 trong số 13 công ty cho thuê hoạt động ở Việt Nam có tên tiếng Anh là “leasing company”.[3] Cách gọi “leasing” cho hoạt động cho thuê nói chung (gồm cả cho thuê tài chính và cho thuê vận hành) giống với cách gọi của nhiều công ty trên thế giới.[4] Thế nhưng, nghĩa tiếng Việt của “leasing company” không phải là “công ty cho thuê tài chính”, mà là “công ty cho thuê”; “financial leasing company” mới có nghĩa là “công ty cho thuê tài chính”.

Do vậy, thay vì gọi các công ty nói trên là “công ty cho thê tài chính” thì nên đổi tên thành “công ty cho thuê” để vừa đúng với nội dung hoạt động của chúng, đồng thời cũng phù hợp với tên gọi phổ biến của các công ty này trên thế giới.

Thứ ba, quy định xử lý chấm dứt hợp đồng trước hạn của ba văn bản trên còn mấy điểm cần bàn:

Trước hết, toàn bộ các văn bản trên chỉ quy định xử lý chấm dứt hợp đồng trước thời hạn đối với cho thê tài chính nhưng không đề cập đến trường hợp cho thuê vận hành. Vậy, khi rủi ro này phát sinh thì các công ty cho thuê có thể áp dụng các quy định của cho thuê tài chính không?

Ngoài ra, quy định việc thanh toán số tiền còn thiếu theo hợp đồng như hiện nay là không thỏa đáng đối với người đi thuê. Lý do là số tiền còn thiếu theo hợp đồng sẽ được thanh toán dần dần cho đến cuối thời hạn thuê. Nếu chấm dứt hợp đồng trước hạn mà phải trả ngay hết số tiền thuê thì e không hợp lý vì đã không tính đến yếu tố giá trị tiền tệ theo thời gian. Biết rằng, bên cho thê cần phải được hưởng lãi trong việc cho thuê nhưng việc hưởng lãi (theo hợp đồng) phải diễn ra cho đến hết thời gian thuê. Nếu thu hồi hết tiền thanh toán theo hợp đồng sớm thì người đi thuê vừa có lợi vì không cần chờ đến chấm dứt hợp đồng mà lại có thể lấy tiền này tái đầu tư và tiếp tục hưởng lãi. Đứng về phía người đi thuê đây là một áp lực rất lớn và không công bằng với họ.

Người đi thuê có lỗi để dẫn đến chấm dứt hợp đồng trước hạn thì phải chịu phạt để bồi thường thiệt hại cho người cho thuê là điều tất yếu, nhưng nếu quy định như hiện nay để trừng phạt họ thì chưa hợp lý. Ở đây cần tính đến yếu tố giá trị tiền tệ theo thời gian và thiệt hại của người đi thuê để phạt người đi thuê có thể sẽ phù hợp hơn.

Tóm lại, các điều kiện phân biệt giao dịch cho thê tài chính của Nghị định 65 cần phải được sửa đổi cho phù hợp hơn. Tên gọi của các công ty thực hiện hoạt động cho thuê nên gọi là “công ty cho thuê” thì chuẩn hơn “công ty cho thê tài chính”. Ngoài ra, nên cân nhắc yếu tố giá trị tiền tệ theo thời gian trong việc quy định việc thanh toán nợ còn thiếu khi hợp đồng cho thuê chấm dứt trước hạn.



[1] Chi tiến hơn, xem Chuẩn mực kế toán số 6.



[2] Thuật ngữ tài sản trong trường hợp này ám chỉ tài sản cố định.



[3] Website Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: http://www.sbv.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c5/hY2xDoIwGISfyPQKLcWxIJQfDQhGRRbSwRgSAQfj81uNLibq3Xj57mMtcx3trT_Zaz-N9swa1gYdFmKuUilQal-CyijfFmtCKbnbD0EXG50JtQJMXsUgk29CEXEA6g-9f_h-88-HL9F47W8DqqVwBuFTnex4SN7HP-CloJDXvE5llBjJimwajuwyNOhppu-8k7Y6/dl3/d3/L2dJQSEvUUt3QS9ZQnZ3LzZfMEQ0OTdGNTQwT0EzNTBJT0JKVU5QSTBPMzI!/



[4] Ví dụ như tên các công ty cho thuê ở Châu Âu, xem: http://www.leaseurope.org/uploads/pr121009.pdf


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét