Danh sách Blog của Tôi

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2011

Quy định trần lãi suất cho vay- Những điều cần cân nhắc

(Đăng trên Thời báo KTSG http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/bandocviet/52585/Nen-can-nhac-ve-quy-dinh-tran-lai-suat-cho-vay.html)

Qui định trần lãi suất huy động bộc lộ nhược điểm làm người ta nghĩ đến việc bỏ quy định này và thay vào đó là quy định trần lãi suất cho vay. [1] & [2] Tuy nhiên, trước khi làm điều đó Ngân hàng Nhà nước cần cân nhắc mấy vấn đề sau:

- Lãi suất từng hợp đồng cho vay phụ thuộc vào nhiều yếu tố như (1) đặc điểm khoản vay (số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, phương thức cho vay, hình thức bảo đảm tín dụng, loại tiền vay…), (2) đặc điểm khách hàng vay (mức độ rủi ro của khách hàng, khách hàng có quan hệ với ngân hàng trước đó không…), (3) tính chất ngành nghề của khách hàng, (4) đặc điểm ngân hàng cho vay (ngân hàng lớn hay nhỏ) và (5) đặc điểm từng thời kỳ kinh tế. Vậy, làm thế nào Ngân hàng Nhà nước có thể xác định được một mức trần lãi suất cho vay phù hợp, có thể thỏa mãn tổng hòa các yếu tố nói trên?

- Thời hạn cho vay càng dài thì rủi ro càng cao, (nếu các yếu tố khác bằng nhau hoặc không đổi) ngân hàng sẽ tính lãi cao cho các khoản vay có thời gian dài để bù đắp rủi ro. Nếu khống chế trần lãi suất, các ngân hàng có thể sẽ hạn chế cho vay trung dài hạn. Trong khi đó, hiện nay, đây là nguồn vốn rất quan trọng đối với các doanh nghiệp để đầu tư sản xuất.

- Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường rủi ro cao hơn so với các doanh nghiệp lớn, nên các ngân hàng thường tính lãi suất cho họ vay cao hơn so với khi cho các doanh nghiệp lớn vay. Nếu có trần lãi suất, có thể ngân hàng chỉ ưu tiên cho doanh nghiệp lớn vay, vì như vậy có lợi cho ngân hàng hơn. Điều đó có thể làm các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn hơn khi đi vay. Trong khi đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện đang có vai trò quan trọng trong nền kinh tế.

- Quy định trần lãi suất huy động bị các ngân hàng lách được thì cũng không khó để họ lách quy định trần lãi suất cho vay. Họ có thể lách bằng cách tính thêm các loại phí (phí cam kết, phí thẩm định tài sản bảo đảm, phí thẩm định dự án vay…) hoặc áp dụng cách tính lãi danh nghĩa thấp hơn lãi suất trần, nhưng lãi suất hiệu dụng (effective rate) thì cao hơn [ví dụ như tính lãi theo phương pháp gộp hoặc yêu cầu doanh nghiệp để lại số dư tại ngân hàng từ tiền vay (compensating balance)].

Các biện pháp hành chính không gắn với quy luật thị trường thì trước sau gì cũng bộc lộ nhược điểm. Nếu muốn dùng biện pháp hành chính khác để thay thì thiết nghĩ Ngân hàng Nhà nước nên cân nhắc trước nhược điểm của biện pháp hành chính mới, trước khi ban hành.

[1] http://cafef.vn/20110416075916528CA34/chi-co-ngan-hang-huong-loi.chn

[2] http://www.baomoi.com/Home/TaiChinh/www.phapluatvn.vn/Doanh-nghiep-lo-ngan-hang-lai/6130653.epi

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

Khấu hao có thu hồi được chi phí đầu tư tài sản cố định?

Có quan điểm rằng khấu hao là để thu hồi vốn đã đầu tư vào tài sản cố định, nhằm tái đầu tư tài sản cố định mới. Đây là một quan điểm sai lầm.

Doanh thu là nguồn tiền vào của doanh nghiệp. Đành rằng khấu hao có thể ảnh hưởng tới giá thành sản phẩn và như vậy, ảnh hưởng tới giá bán mà doanh nghiệp muốn bán, nhưng vì giá bán là do cung cầu trên thị trướng quyết định chứ không phải doanh nghiệp tự quyết định. Cho nên, doanh thu không do khấu hao quyết định. Đó chính là lý do tại sao khi tính lưu chuyển tiền tệ phương pháp trực tiếp người ta không tính tới khấu hao.

Trong lưu chuyện tiền tệ phương pháp gián tiếp, người ta xuất phát từ lợi nhuận ròng cộng khấu hao, trước khi điều chỉnh các khoản mục khác, không phải vì khấu hao là khoản thu hồi; mà vì khi tính lợi nhuận ròng người ta đã trừ đi khấu hao, mà khấu hao là chi phí phân bổ chứ không chi bằng tiền, nên khi tính lượng tiền doanh nghiệp có được, nếu xuất phát từ lợi nhuận ròng, thì phải cộng lại chị phí không chi bằng tiền này.

Giá như khấu khao mà thu hồi được vốn đầu tư thì cần gì bán hàng, chỉ cần bộ phận kế toán hạch toán khấu hao thì muốn thu bao nhiêu vốn mà chẳng được?

Khấu hao tài sản cố định là cần thiết để lượng định hiệu quả kinh đoanh của doanh nghiệp và tận dụng lợi ich thuế khóa, do khấu hao được trừ ra khỏi thu nhập tính thuế. Nhưng, khấu hao tuyệt nhiên không hề thu hồi chi phí đầu tư tài sản cố định; chỉ có tiền bán hàng mới giúp thu hồi chi phí này mà thôi.

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2011

Trình bày tại hội thảo để làm gì?

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu rất tự tin, đến hội thảo trình bày các công trình nghiên cứu của họ chủ yếu để chia sẻ cái hay, cái độc đáo cho người khác. Nếu có người chỉ ra những thiếu sót trong các nghiên cứu đó thì tác giả thường không vui. [1]

Các nhà nghiên cứu nước ngoài hơi khác. Họ đến với các hội thảo thường là do chưa tự tin về những gì mình đang làm cho nên chủ yếu là để được góp ý. Mục đích chính của họ khi trình bày nghiên cứu của mình là để học hỏi. Có rất nhiểu vấn đề trong quá trình nghiên cứu họ không nghĩ tới hoặc chưa biết cách giải quyết. Họ muốn thông qua hội thảo để các đồng nghiệp khác có thể phát hiện những thiếu sót mà góp ý để công trình của họ hoàn thiện hơn.

Đây là một ví dụ, tác giả bài viết cám ơn đóng góp của những người tham dự các hội thảo mà bài này đã được trình bày:

"An earlier version of this paper was presented at the Australian Graduate School of Business, Monash Univerersity at Clayton, University of Technology-Sydney, The University of New England, The University of Western Australia, the 1998 AAANZ Conference, the 1998 FMA Meetings in Chicago, and the Banking Research Study Group at the University of New South Wales. The authors would like to thank participants at these presentations and Neil Esho, Mark Flannery, Benton Gup, Warren Hogan, Paul Kofman, Kerry Pattenden, Jian-Xin Wang, Jonathan Karpoff (the editor), and Elazar Berkovitch (the referee) for their helpful comments."

(Nguồn: Dennis, S. A., Nandy, D., and Sharpe, I. G. (2000). The determinants of contract terms in bank revolving credit agreements. Journal of Financial & Quantitative Analysis, 35(1), 87-110.)

[1] Đây là nhận xét cá nhân người viết qua những lần dự hội thảo ở Việt Nam.

Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2011

Mấy suy nghĩ về việc sinh viên nghiên cứu khoa học

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang khuyến khích nghiên cứu khoa học của sinh viên. [1] Cả sinh viên [2] và giảng viên [3] của Trường Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chính Minh đều tích cực tham gia phong trào này. Có thể nói đây là tín hiệu tích cực đáng mừng cho sự hiếu học và đam mê nghiên cứu của cả thầy lẫn trò. Tuy vậy, qua các bài viết về nghiên cứu khoa học của họ thiết nghĩ có mấy vấn đề cần trao đổi thêm để phong trào này được tốt hơn.

- Cần làm cho sinh viên hiểu và biết thế nào là nghiên cứu. Những gì họ đang làm thiên về tìm hiểu và tự học hơn là công việc nghiên cứu thật sự. Xem thêm [4]

- Cần làm cho các công trinh có tính hội nhập quốc tế bằng cách gởi công bố ở các tạp chí có thứ hạng của quốc tế [5], nếu chỉ lẩn quẩn ở các công tình có tính hành chính như cấp khoa, cấp trường, cấp bộ và cấp nhà nước thì chẳng có tính cọ sát cao và chưa chắc được nhân loại thừa nhận. Vì những người nghiệm thu đề tài các cấp nói trên chưa hẳn là những người am hiểu hàng đầu lĩnh vực được nghiệm thu. Hơn nữa, khi gởi công trình đi các tạp chí có uy tín thì người đọc phản biện ở các tạp chí này có thể sẽ chỉ ra những điểm sai trong nghiên cứu của mình để mình có thể học hỏi và hoàn thiện. Đây là những ý kiến rất quý báo vì những người phản biện của các tạp chí lớn thường là các big name trang lĩnh vực đó.

- Cần phân biệt sinh viên coursework với sinh viên by research. Thường các sinh viên sau đại học mới có chương trình by reserch và lúc đó họ được cung cấp phương tiện nghiên cứu y như giảng viên của trường cho nên có điều kiện nghiên cứu rất tốt. Sinh viên đại học trở xuống chỉ cần học được kiến thức căn bản của ngành, kỹ năng tự học tốt thì đã đủ cho nghề nghiệp và việc tự học trong tương lai, không nhất thiết biết kỹ năng nghiên cứu (theo đúng nghĩa của công tác nghiên cứu). Vì khi ra đời những người này không tiếp tục làm nghiên cứu; còn nếu họ muốn nghiên cứu thì sẽ tham gia các khóa học by research sau đại học.

Hiện nay, nội dung đào tạo và thời gian đào tạo đang có vấn đề [6] thì quỹ thời gian làm công tác nghiên cứu không đúng và không bài bản có thể không hiệu quả cho sinh viên.

Mong những ai quan tâm tới vấn đề này tiếp tục đóng góp.

[1] http://nld.com.vn/20110326110736236p0c1017/trich-hoc-phi-cho-sinh-vien-nghien-cuu-khoa-hoc.htm

[2] http://www.iae.edu.vn/index.php?page=detailnews&id=46

[3] http://www.iae.edu.vn/index.php?page=detailnews&id=46

[4] http://www.facebook.com/note.php?note_id=410731647129

[5] Ví dụ danh sách các tạp chí khoa học được phân loại ở Úc, xem: http://www.arc.gov.au/era/era_journal_list.htm

[6] http://www.facebook.com/note.php?note_id=200811133262310

Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2011

Làm chủ tịch... còn sướng hơn!

Luật Ngân hàng Nhà nước quy định “Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là thành viên của Chính phủ, là người đứng đầu và lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng” (Điểu 8, khoản 1). Luật này cũng quy định chi tiết các hoạt động "quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng" cần phải làm.

Luật Ngân hàng Nhà nước cũng không thấy nói về Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia.

Theo quyết định thành lậpquy chế hoạt động của ủy ban này thì chủ tịch của nó chỉ phải “chịu trách nhiệm tước Thủ tướng Chính phủ trước pháp luật về việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao” nhưng không đề cập rõ trách nhiện cụ thể là gì. Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia được hưởng chế độ tương đương Thống đốc (tương đương bộ trưởng).[3]

Đã vậy, ông Giàu theo gương ông Thúy là sướng nhất.


Thứ Hai, 7 tháng 3, 2011

Tiến sĩ Vs.Tiến sĩ khoa học

Trước năm 1998, Việt Nan không đào tạo tiến sĩ (TS) mà chỉ có phó tiến sĩ (PTS). Các nước XHCN có đào tạo TS, nhưng người Việt học ở các nước này chủ yếu chỉ có bằng PTS mà thôi.

Từ năm 1998, theo Luật Giáo dục, Việt Nan không còn học vị PTS mà chỉ có TS. Nhưng nếu quy đổi tất cả thành TS sẽ không công bằng với những ai trước đó có bằng TS. Cho nên, ai có PTS thì gọi là TS; còn ai có TS thì gọi là tiến sĩ khoa học (TSKH).

Những người được đào tạo TS ở các nước tư bản hoặc có bằng TS sau năm 1998 cũng được gọi là TSKH.

Tóm lại TSKH là cách gọi TS thật sự; còn TS là cách gọi PTS.

Xem thêm:

http://www.sggp.org.vn/bandocdatcauhoi/2006/7/52839/

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%B3_ti%E1%BA%BFn_s%C4%A9

http://dantri.com.vn/c20/s202-258573/vi-sao-co-su-bat-dong-ve-chuyen-ton-vinh-tien-si.htm

Thứ Bảy, 26 tháng 2, 2011

Ai làm chính sách vĩ mô ở Việt Nam?

(Đăng trên TBKTSG: http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/bandocviet/49005/Lo-hong-do-dau?.html)

Ông Lê Đức Thúy cho rằng “Nhiều NHTM đã kiếm lời trên lưng nhà nước" vì “Chúng ta giữ lại LS tái chiết khấu, tái cấp vốn quá thấp. Những NH lớn mua TPCP thậm chí cao hơn LS huy động, chịu lỗ một chút sau đó lên thị trường liên NH cho vay lại 15-20%”. [1]

Thiết nghĩ, trong chuyện này, ông Thúy chưa chỉ đúng người phải chịu trách nhiệm.

Trái phiếu Chính phủ là một nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước. [2a, 2b] Đối với ngân hàng thường mại, nó là một phương tiện để đầu tư và dự trữ cho thanh khoản. [3] Lãi suất trái phiếu do Bộ Tài chính quy định [4a, 4b]. Trên cơ sở tính toán lợi ích, các ngân hàng thương mại sẽ tham gia mua trái phiếu. Đương nhiên, họ sẽ mua nếu có lợi cho mình. Khi đó, họ đã góp phần thực hiện kế hoạch ngân sách nhà nước.

Lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. [5a, 5b] Để có tỷ lê tăng trưởng tín dụng (thực tế và kế hoạch) rất cao vừa qua [6a, 6b], Ngân hàng Nhà nước phải khuyến khích và tạo thêm thanh khoản cho các ngân hàng thương mại và như thế, hai loại lãi suất trên đã thực hiện nhiệm vụ này. Ngân hàng Nhà nước đã căng cứ tình hình thực tế và mục đích của mình để quy định lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn. [7a, 7b]

Như vậy, việc các ngân hàng thương mại mua trái phiếu Chính phủ rồi thực hiện hoạt động tái chiết khấu hay tái cấp vốn để tiếp tục cho vay là phản ứng hoàn toàn phù hợp với những gì Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước mong muốn.

Hiện các chính sách vĩ mô đó được coi là có vấn đề. Các cơ quan đã làm ra các chính sách đó lẽ ra phải nhận trách nhiệm của mình và ông Thúy với tư cách người đứng đầu Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia phải chỉ ra ai là người có trách nhiệm. Thế nhưng, ông lại đỗ lỗi cho các chủ thể đơn thuần hoạt động theo các chính sách đó.

[1] http://www.baomoi.com/Home/TaiChinh/cafef.vn/Ong-Le-Duc-Thuy-Nhieu-NHTM-da-kiem-loi-tren-lung-nha-nuoc-do-LS-tai-chiet-khau-tai-cap-von-qua-thap/5769900.epi

[2a]http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1351583/2126549/2117088?p_folder_id=15263855&p_recurrent_news_id=15264375

[2b]http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1351583/2126549/2117088?p_folder_id=35823696&p_recurrent_news_id=35867188

[3] http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=192054

[4a] http://www.khaitri.vn/DirectFiles/S40/P40D19520F2.pdf

[4b] http://moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=26144

[5a] http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/07/07/5032-2/

[5b] http://www.thuvienphapluat.vn/archive/Luat/Luat-Ngan-hang-Nha-nuoc-Viet-Nam-2003-sua-doi-

[6a] http://atpvietnam.com/vn/thongtinnganh/44662/index.aspx

[6b] http://vneconomy.vn/2011022307580195P0C6/thong-doc-doanh-nghiep-bat-dau-ban-ngoai-te-ra-thi-truong.htm

[7a]http://www.sbv.gov.vn/wps/SBVDataStore/upload/VBQPPL/NHNN/2010/QUYETDINH/2010_11_5_102839_124.pdf

[7b]http://www.sbv.gov.vn/wps/SBVDataStore/upload/VBQPPL/NHNN/2011/QUYETDINH/2011_02_17_34247_306.pdf

Thứ Năm, 24 tháng 2, 2011

Một số vấn đề liên quan lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tai chiết khấu

Note này bàn về hai vấn đề (1) lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu là gì theo quy đinh pháp luật hiện hành và (2) một số vấn đề về cách hiểu chưa chính xác có liên quan tới lãi suât này trong hoạt động ngân hàng.


Nhà báo Nguyễn Vạn Phú đã giải thích thế nào là lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tài chiết khấu theo ngữ nghĩa của nó.[1] Note này bàn về hai loại lãi suất đó theo quy định của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực ngân hàng.


Điều 10, 11 và 12 Luật Ngân hàng nhà nước mới có hiệu lực vào ngày 1-1-2011 quy định như sau: [2]

Điều 10. Công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ.

Điều 11. Tái cấp vốn

1. Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng.

2. Ngân hàng Nhà nước quy định và thực hiện việc tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng theo các hình thức sau đây:

a) Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá;

b) Chiết khấu giấy tờ có giá;

c) Các hình thức tái cấp vốn khác.

Điều 12. Lãi suất

1. Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi.

2. Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, Ngân hàng Nhà nước quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác.


Như vậy, theo Luật Ngân hàng Nhà nước ‘tái cấp vốn’ là một công cụ của chính sách tiền tệ, được thực hiện thông qua ba hình thức:

a) Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá;

b) Chiết khấu giấy tờ có giá;

c) Các hình thức tái cấp vốn khác.


Do đó, lãi suất tái cấp vốn chính là lãi suất áp dụng cho ba hình thức tái cấp vốn nói trên. Trong đó lãi suất tái chiết khấu là một trong số loại lãi suất tái cấp vốn.


Vấn đề trên cũng được quy định tương tự trong Luật Ngân hàng Nhà nước cũ [3]


Tuy nhiên, theo các quyết định của Ngân hàng Nhà nước thì có thể hiểu lãi suất tái cấp vốn chính là lãi suất áp dụng cho các hình thức a) và c) còn lãi suất tái chiết khấu thì áp dụng cho hình thức b); như cách giải thích của ông Nguyễn Vạn Phú:

- Quyết định số 2620/QĐ-NHNN ra ngày 05-11-2010 quy định Lãi suất tái chiết khấu là 7% và lãi suất tái cấp vốn là 9% [4]

- Sau đó, ngày 17-02-2011 NHNN lại ra Quyết định số 271/QĐ-NHNN thay đổi Lãi suất tai cấp vốn từ 9% nói trên lên 11%, nhưng chưa có thay đổi về lãi suất tái chiết khấu. [5]


Có nhiều trái phiếu Chính phủ và lãi suất tái chiết khấu thấp được coi là một trong những nguyên nhân làm cho một số ngân hàng thương mại năm qua có lãi lớn. Tuy nhiên lý giải rằng vì “…có thời điểm các ngân hàng khó khăn về thanh khoản, lúc đó những ngân hàng nào có nhiều giấy tờ có giá đem cầm cố vay vốn từ Ngân hàng Nhà nước với lãi suất cực thấp, sau đó đem cho các ngân hàng khác vay lại hoặc cho vay ra ngoài với lãi suất cao hơn nhiều là đã thu được khoản lời lớn” [6] là chưa đầy đủ. Vấn đề còn là, các ngân hàng này trước đây đã mua trái phiếu Chính phủ với lãi suất từ 10,3% cho tới 12,3% [7] nay chiết khấu lại với lãi suất tái chiết khấu 7% thì đã có lãi rồi, chưa cần nói tới việc cho vay lãi suất cao hơn. Giá trái phiếu tái chiết khấu với lãi suất 7% sẽ cao hơn giá mua với lãi suất 10,3% đến 12,3% lúc đầu và chênh lệch này chính là lãi của ngân hàng. (Ghi nhớ: Lãi suất thấp thì giá trái phiếu cao và ngược lai)


Nhân tiện, có một comment trên FB có liên quan, thiết nghĩ là không chính xác:

Lượng trái phiếu hiện nay phần lớn do 5 NHTM lớn nắm giữ, các NH này mua TP với LS thấp nhưng hiện nay lãi suất huy động và cho vay cao, LS liên NH cũng cao do các NH nhỏ thanh khoản thấp nên các NHTM sẽ "trúng đậm" do LS TCV thấp. Các NHTM đang kiếm lời lớn trên ngân sách nhà nước nên phải tăng LS TCV lên.(thầy đề suất tăng lên 13-14% lận)

Còn tín phiếu và thương phiếu thì trên thị trường không đáng kể nên LS TCK giữ nguyên.

Bắt đầu từ tuần này, hoạt động TCV của NHNN sẽ thông qua 3 cái là: Trái phiếu, hồ sơ tín dụng có đảm bảo (lớn), và Vốn tự có của các NHTM (đi cầm cái giấy phép kinh doanh).

Tuần sau, dự định sẽ tăng dự trữ bắt buộc thêm vài % nữa.” [8]

- Nếu NHTM mua TP với lãi suất thấp có nghĩa là cho Chính phủ vay với lãi suất thấp nhưng hiện nay huy động và cho vay với lãi suất cao thì sẽ bị lỗ chứ sao “trúng đậm” được? Vì vậy họ đang đóng góp cho ngân sách chứ sao lại “đang kiếm lời lớn trên ngân sách nhà nước” được? Ngoài ra, nếu có tăng lãi suất tái cấp vốn lên hơn nữa cũng không ảnh hưởng vì khi các ngân hàng này tái chiết khấu trái phiếu Chính phủ thì Ngân hàng Nhà nước vẫn áp dụng lãi suất tái chiết khấu là 7% nói trên.


Giả sử có chuyện lãi suất này mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng thương mại nhưng không có lợi cho Chính phủ thì Chính phủ có thay đổi lãi suất tái chiết khấu chỉ vì lý do muôn làm giảm lợi nhuận ngân hàng không? Tất nhiên là không. Lý do, lúc phát hành trái phiếu Chính phủ đưa ra mức lãi suất dựa trên tính toan tính hợp lý của mình và dựa vào đó ngân hàng chấp nhận mua. Trong quá trình giữ trái phiếu này, Chính phủ thấy không có lợi cho mình rồi đơn phương thay đổi lãi suất tái chiết khấu để giành phần hơn về mình rồi gây thiệt hại cho ngân hàng thương mại thì liệu có chính đáng không? Nên nhớ, chức năng chính của Chính phủ không phải là tìm kiếm lợi nhuận cho bản thân mình cho nên không thể kinh doanh chụp giựt như thế. Đương nhiên Chính phủ có thể tăng lãi suất tái chiết khấu cho mục đích điều hành chính sách tiền tệ của mình vì lợi ích chung của nền kinh tế, ví dụ chống lạm phát, cho nên có thể làm hy sinh lợi ích của một số đối tượng trong nền kinh tế, chẳng hạn như ngân hàng. Đó lại là chuyện hoàn toàn khác, chứ không phải vì mục đích vô lý vừa nêu. Về phần các ngân hàng thương mại, cho dù lãi suất tái chiêt khấu tăng, nếu họ vẫn giữ trái phiếu cho tới lúc đến hạn thì vẫn nhận được mức sinh lời mình muốn (Yield to maturity- YTM), còn nếu tái chiết khấu rồi cho vay lại được với lãi suất cao hơn thì họ vẩn không bị thiệt.


- Cầm cố giấy phép kinh doanh thì… chịu. Cái này phải hỏi anh em tín dụng! (Xem thêm quy chế Về việc ban hành quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng [9])

[1] http://nguyenvanphu.blogspot.com/2011/02/u-loai-lai-suat.html

[2] http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/07/07/5032-2/

[3] http://www.thuvienphapluat.vn/archive/Luat/Luat-Ngan-hang-Nha-nuoc-Viet-Nam-2003-sua-doi-10-2003-QH11-vb51048t10.aspx

[4]http://www.sbv.gov.vn/wps/SBVDataStore/upload/VBQPPL/NHNN/2010/QUYETDINH/2010_11_5_102839_124.pdf

[5]http://www.sbv.gov.vn/wps/SBVDataStore/upload/VBQPPL/NHNN/2011/QUYETDINH/2011_02_17_34247_306.pdf

[6] http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/nganhang/47669/

[7] http://cafef.vn/20100720054313322CA34/bieu-do-lai-suat-dang-le-cong-sao-lai-thang.chn

[8] http://www.facebook.com/profile.php?id=100000252331435

[9] http://luat.xalo.vn/phap-luat/Quyet-dinh/135856799/Quyet-dinh-Ban-hanh-Quy-che-the-chap-cam-co-tai-san-va-bao-lanh-vay-von-ngan-hang.html

Thứ Ba, 22 tháng 2, 2011

Có thể tăng lãi suất để hạn chế nhu cầu vay?

Bài “Tín dụng - lãi suất” có bàn về nghịch lý khi tăng lãi suất cho vay nhu cầu tín dụng vẫn tăng. Note này cho thấy (1) tăng lãi suất có thể chưa phải là cách thức tốt để hạn chế nhu cầu vay và (2) lý giải nhờ đâu ngân hàng có thể tăng lãi suất đồng thời tăng dự nợ mà không bị rủi ro. Vì chưa có điều kiện nghiên cứu thực nghiệm tình hình Việt Nam nên note này chỉ dừng lại ở những lý giải đơn thuần bằng lý thuyết.

Thông tin không cân xứng (asymmetric information) xảy ra khi trong một giao dịch bên này có lợi thế thông tin hơn bên kia. Ví dụ, người đi vay biết rõ các hoạt động và dự án của họ hơn ngân hàng. Thông tin không cân xứng sẽ gây ‘sự lựa chọn trái ngược’ (adverse selection) và ‘rủi ro đạo đức’ (moral hazard). Sự lực chọn trái ngược lần đầu tiên được Akerlof (1970) đề cập với tên gọi ‘vấn đề “quả chanh”’ (“lemon” problem). Trong thị trường tín dụng, vì thông tin không cân xứng, ngân hàng không phân biệt được khách hàng tốt với khách hàng xấu nên cho vay với cùng một lãi suất bình quân sẽ làm cho khách hàng tốt không có lợi do phải vay với lãi suất cao hơn lãi suất mà đáng ra họ phải trả vì thế họ sẽ không vay nữa; trong khi đó, khách hàng xấu thì có lợi vì vay rẽ hơn lãi suất thật sự họ phải trả nên sẽ tiếp tục vay. Điều này làm cho thị trường chỉ còn lại khách hàng xấu.

Rủi ro đạo đức xảy ra khi ngân hàng có ít thông tin về hoạt động cũng như các dự án của người đi vay hơn bản thân ngươi đi vay cho nên người đi vay có thể không thực hiện tốt nhất hợp đồng vay; chẳng hạn, người đi vay chọn lựa cách sử dụng tiền vay nhiều rủi ro hơn để có lợi nhuận cao hơn. Nếu họ thành công thì vẫn chỉ trả ngân hàng số tiền cố định,và hưởng toàn bộ lợi nhận siêu ngạch nhờ chấp nhận rủi ro, nhưng nếu thất bại thì ngân hàng sẽ cũng chịu thiệt hại.

Với hai vấn nạn trên ngân hàng có thể rủi ro hơn nếu họ tăng lãi suất để giảm nhu cầu vay của khách hàng. Các ngân hàng thường chỉ nâng lãi suất để cân bằng cung cầu trong một giới hạn nhất định, sau đó, để tránh rủi ro, sẽ từ chối cho vay hay còn gọi là hạn chế tín dụng (credit rationing). Khi ngân hàng hạn chế tín dụng trên thị trường sẽ có hiện tượng, với mức lãi suất thị trường, còn có nhiều người muốn vay, nhưng ngân hàng từ chối các yêu cầu vay đó.

Đảm bảo tín dụng có thể giúp ngân hàng giảm tình trạng thông tin không cân xứng và cải thiện tình trạng hạn chế tín dụng. Có hai lý thuyết giải thích điều này. Thứ nhất, đảm bảo tín dụng giúp giảm rủi ro đạo đức. Nếu rủi ro xảy ra ngân hàng sẽ bán đảm bảo thu hồi nợ và người đi vay thường bị thiệt nếu bị bán tài sản cho nên không muốn sử dụng tiền vay mạo hiểm. Một khi đảm bảo tín dụng chưa đủ bù đắp rủi ro thì lãi suất cho vay vẫn có thể cao. Trong trường hợp này, lãi suất cao và đảm bảo tín dụng được coi là hai công cụ bổ sung nhau.

Thứ hai, đảm bảo tín dụng có thể giúp người đi vay tự phát tín hiệu (signalling) tư cách tín dụng tốt của mỉnh. Những người đi vay có tình hình tài chính và dự án tốt, không sợ bị bán tài sản do không trả được nợ thường xung phong dùng đảm bảo tín dụng để được vay với các điều kiện khác dễ dãi hơn như lãi suất ưu đãi, thời hạn dài, thủ tục mau lẹ…. Ngược lại, khác hàng xấu biết khả năng thất bại trong việc trả tiền vay cao nên thường không muốn dùng đảm bảo tín dụng. Như vậy, thông qua lựa chọn có dùng đảm bảo tín dụng hay không ngân hàng có thể nhận biết khác hàng nào là khác hàng tốt và khách hàng nào là khác hàng xấu.

Các nghiên cứu thực nghiệm thường cho kết quả ủng hộ lý thuyết thứ nhất.

Tóm lại, do thông tin không cân xứng ngân hàng khó có thể dùng lãi suất cao để hạn chế nhu cầu vay vì như thế sẽ rất rủi ro cho ngân hàng. Đảm bảo tín dụng có thể giúp ngân hàng vừa tăng lãi suất vừa tăng dư nợ nhờ giảm hậu quả tình trạng thông tin không cân xứng.

Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2011

Trách nhiệm nhà báo và lương tâm chuyên gia

(Đăng trên TBKTSG: http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/bandocviet/48511/Phong-van-chuyen-gia.html)

Người viết không có chuyên môn làm báo, nhưng cảm thấy có nhiều bất ổn trong việc sử dụng ý kiến chuyên gia nên muốn nêu lên vài kiến nghị cho cả phóng viên lẫn các chuyên gia trả lời phỏng vấn.

1. Các phóng viên, bên cạnh việc thu thập thông tin những vấn đề nóng bỏng của đất nước, thường phỏng vấn chuyên gia để làm cho bài viết vừa có tính thời sự vừa có tính chuyên môn cao. Tuy nhiên, để sử dụng tốt ý kiến chuyên gia cần chú ý mấy vấn đề sau:

- Với sự phân công lao động xã hội chuyên sâu như hiện nay, các chuyên gia thường phải tập trung vào lĩnh vực hẹp của mình thì mới có thể tao được thế mạnh cạnh tranh so với các đồng nghiệp của họ, cho nên khó ai có thể nghiên cứu hoặc trãi nghiệm sâu nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì thế, trước khi phỏng vấn ai, phóng viên nên tìm hiểu người mình định phỏng vấn, nếu là nhà khoa học thì chuyên nghiên cứu lĩnh lĩnh vực nào và có các công bố nghiên cứu ở đâu; còn nếu là người làm trong thực tế thì họ đã kinh qua những chức vụ và công việc cụ thể nào để phỏng vấn đúng sở trường của họ. Nếu chưa có điều kiện tìm hiểu như thế thì khi phỏng vấn, nên phỏng vấn họ chính những điều đó trước tiên. Người nào cho rằng lĩnh vực nào cũng có thể trả lời phỏng vấn được thì họ rất khó có thể cho ý kiến chính xác và sâu sắc.

Cường độ trả lời phỏng vấn cũng là một tín hiệu cho thấy chất lượng của các ý kiến. Trước mỗi vấn đề, cần có thời gian mới có thể nghiên cứu sâu và phân tích kỹ rồi mới đưa ra kết luận tin cậy được. Thế nên, các chuyên gia sản sinh ra các ý kiến đều đặn hàng ngày, ngay cả hàng tuần, thì khó là ý kiến có giá trị vì khoảng thới gian ngắn như vậy rất khó để họ có phát hiện mới trong lĩnh vực của mình.

- Nên kiểm tra chéo ý kiến phỏng vấn. Cùng một vấn đề có thể có nhiều cách lý giải nên nếu phóng viên lấy ý kiến chuyên gia này kiểm chứng ở chuyên gia khác thì sự xác nhận hoặc phản biện trái ngược đều có thể giúp làm vấn đề thêm rõ hơn. Điều này cũng có tác dụng giúp phóng viên phân biệt được ý kiến nào có giá trị, khi vấn đề phỏng vấn nằm ngoài kiến thức chuyên môn của mình.

- Sau khi phỏng vấn phóng viên nên theo dõi để đối chiếu với kết quả thực tế nhằm nhận biết tính chính xác của các ý kiến chuyên gia. Việc làm này giúp phóng viên nhận ra ai là người trả lới phỏng vấn tốt và ai chỉ nói bừa.

- Lắng nghe và tận dụng phản hồi của đọc giả. Thường khi thấy nội dung nội dung bài viết tâm đắc hoặc có gì không chính xác thì đọc giả sẽ phản hồi. Người đọc có lý của họ. Nên tận dụng những người này để nắm thêm vấn đề. Bản thân người viết đã đóng góp nhiều ý kiến cho nhiều tờ báo khác nhau nhưng rất ít tờ báo trả lời phản hồi và tiếp tục trao đổi. Chưa biết ý kiến đó là đúng hay sai, nhưng đó có thể là những gợi ý cho tác giả bài báo những khía cạnh chưa nghĩ đến khi viết.

2. Người được phỏng vấn nên có trách nhiệm với những phát biểu của mình. Cần coi cơ hội trả lời phỏng vấn là lúc đem kết quả nghiên cưu và kinh nghiệm của mình đóng góp cho xã hội rồi qua đó khẳng định mình thông qua những ý kiến đóng góp có giá trị. Tránh háo danh mà phát biểu lung tung cốt sao để có tên mình trên mặt báo. Nếu chủ đề không thuộc phạm vi hiểu biết hoặc ngoài lĩnh vực mình nghiên cứu thì nên mạnh dạn từ chối. Những ý kiến chủ quan, không có cơ sở khoa học hoặc thiếu trách nhiệm dẩn dần cũng sẽ bộc lộ. Kết quả, trước hết làm rối loạn thông tin trong xã hội sau là gây hại cho uy tín của bản thân.

Tóm lại, doanh nghiệp và người dân đang đối diện tình trạng ít thông tin để ra quyết định, các phóng viên và chuyên gia nên có nên có trách nhiệm và lương tâm để, nếu không cung cấp thêm được thông tin cho họ thì cũng đừng làm tệ hơn tình hình.

Thứ Sáu, 18 tháng 2, 2011

Kiểm chứng ý kiến Ts Cao Sĩ Kiêm bằng kiến thức Phân tích tài chính doanh nghiệp căn bản

1. Ông Cao Sĩ Kiêm cho rằng “…nếu lãi bình quân của doanh nghiệp rơi vào khoảng khoảng 22-25% trong khi lãi suất cho vay từ 19-20% thì doanh nghiệp sẽ rất khó để trụ được”.

Đúng là nếu lãi suất vay NH cao thì không có lợi cho doanh nghiệp và nếu quá cao quá thì doanh nghiệp sẽ bị lỗ, nhưng ví dụ trên của ông Kiêm e là không chính xác.

Vì ông không nói rõ lãi bình quân của doanh nghiệp ở đây là tỷ suất lãi tính trên vốn sở hữu (Return on Equity- ROE) hay trên tài sản (Return on Assets-ROA), nên hãy xét cả hai tình huống:

- Con số 22- 25% mà ông Kiêm nói là ROE

ROE là tỷ lệ giữa lợi nhận ròng chia cho vốn sở hữu. Lợi nhuận ròng của doanh nghiệp đã loại trừ lãi vay NH. Cho nên ROE mà đạt 22-25% thì mặc nhiên đã loại trừ phần trả lãi 19-20% cho NH rồi, sao lại có chuyện “khó để trụ được”?

- Con số trên là ROA

Hãy xét ví dụ doanh nghiệp có cơ cấu nợ và vốn sở hữu sau:

Nợ: 60 tỷ đồng (60%)

Vốn sở hữu: 40 tỷ đồng (40%.)

Tổng nguồn vốn = Tổng tài sản: 100 tỷ đồng (100%)

Giả sử doanh nghiệp này đi vay với lãi suất 20% và tỷ suất lợi nhận lợi nhuận (ROA) đạt được là 22% (lấy con số lãi vay cao nhất và tỷ suất lợi nhuận thấp nhất).

Với ROA là 22% có nghĩa doanh nghiệp lãi 22 tỷ đồng (100 tỷ đồng X 22%)

Lãi suất vay NH 20% thì doanh nghiệp phải trả lãi 12 tỷ đồng (60 tỷ đồng X 20%)

Vậy, lợi nhuận ròng sẽ là 10 tỷ đồng (22 tỷ đồng – 12 tỷ đồng). Trong trường hợp này ROE sẽ là 25% (10 tỷ đồng/40 tỷ đồng). Muốn doanh nghiệp này bị lỗ thì lãi suất vay NH phải trên 36,67%. Lúc đó lợi nhuận của doanh nghiệp vẫn là 22 tỷ còn lãi vay phải trả NH mới cao hơn 22 tỷ đồng (60 tỷ đồng X >36,67%).

Phân tích vừa rồi vẫn có ý nghĩa cho trường hợp nợ của doanh nghiệp biến thiên từ 0 cho tới gần 100%.

Tóm lại, cho dù con số ông Kiêm nói là ROE hay ROA thì ví dụ mà ông đưa ra vẫn không chính xác.

2. Ông Kiêm còn nói “Các nước, hệ số doanh nghiệp vay ngân hàng rất ít mà chủ yếu là vốn tự có, vay ngân hàng chỉ là vốn bổ sung. Doanh nghiệp Việt Nam thì vay là chủ yếu nên rời ngân hàng ra là gặp khó khăn. Do vậy, trong tình hình lãi suất cho vay cao thì phần lợi nhuận thu về chỉ đủ trả lãi ngân hàng nên nhiều doanh nghiệp chỉ hoạt động cầm chừng

Trở lại ví dụ trên, giả sử doanh nghiệp vay NH tới 90% (giả sử đại diện cho doanh nghiệp VN) thì điều gì xảy ra?

Nợ: 90 tỷ đồng (90%)

Vốn sở hữu: 10 tỷ đồng (10%.)

Tổng nguồn vốn = Tổng tài sản: 100 tỷ đồng (100%)

Vẫn giả sử doanh nghiệp này đi vay với lãi suất 20% và tỷ suất lợi nhận lợi nhuận đạt được là 22%.

Với ROA là 22% có nghĩa doanh nghiệp lãi 22 tỷ đồng (100 tỷ đồng X 22%)

Lãi suất vay NH 20% thì doanh nghiệp phải trả lãi 18 tỷ đồng (90 tỷ đồng X 20%)

Vậy, lợi nhuận ròng sẽ là 4 tỷ đồng (22 tỷ đồng – 18 tỷ đồng). Trong trường hợp này ROE sẽ là 40% (4 tỷ đồng/10 tỷ đồng). Muốn doanh nghiệp này bị lỗ thì lãi suất vay NH phải trên 24,44%. Lúc đó lợi nhuận của doanh nghiệp vẫn là 22 tỷ còn lãi vay phải trả NH mới cao hơn 22 tỷ đồng (90 tỷ đồng X >24,44%).

Như vậy, nếu doanh nghiệp có nợ càng nhiều thì với chênh lệch ROA và lãi suất vay NH như ông Kiêm nói sẽ cho ROE càng cao do yếu tố đòn bẩy (leverage) nhưng sẽ rủi ro trong hoạt động sẽ càng cao.

Tóm lại, doanh nghiệp vay nhiều hơn vốn sở hữu thì bất lợi trong kinh doanh, chẳng hạn như khi lãi suất vay tăng thì dễ bị rủi ro hoặc kinh doanh bị lỗ thì vì vốn sở hữu mỏng sẽ "khó để trụ được", chứ không phải bất lợi ở những chỗ như ông Kiêm đã phân tích.

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2011

Vài thông tin để so sánh về nội dung môn Tín dụng ngân hàng tại Đại học ngân hàng với một số nước

“Tham luận về nghiên cứu khoa học và đào tạo đại học” có nói “tài lieu môn Tín dụng ngân hàng hiện nay chỉ tập trung hoạt động tín dụng truyên thống, thiếu mảng quản trị danh mục tín dụng và sử dụng các phái sinh để quản lý rủi ro, chưa đề cập đây đến các kỹ thuật thẩm định theo xu hướng hiện đại, và thậm chí chưa có các quy định quản lý rủi ro tín dụng theo Basel”. [1] Note này cung cấp thêm thông tin cho nhận định đó. (Vấn đề này đã được email cho các vị có chức năng của Khoa Tín dụng, Đại học Ngân hàng (BU) vào ngày18/12/2010 nhưng đến nay tròn ba tháng, chưa được hồi âm.)

Đề cương môn Tín dụng ngân hàng (dành cho đối tượng chính quy chuyên ngành) chia làm hai học phẩn. [2]

Chỉ cần so sánh với Pakistan đã thấy chương trình của BU lạc hậu thế nào. [3]

Còn đây là chương trình của University of the West Indies của Jamaica, một quốc đảo nhỏ:

http://myspot.mona.uwi.edu/economics/econ3066-credit-analysis-and-lending

Còn đây là chương trình của University of Southern Queensland:

http://www.usq.edu.au/course/specification/2010/FIN2108-S6-2010-EXT-TWMBA.html

Của UNSW:

http://www.asb.unsw.edu.au/schools/Courseoutlines/FINS3634%20Credit%20Analysis%20and%20Lending%20S12005.pdf

Đây là đề cương của khóa đào tạo ngằn hạn:

http://www.ethanhathaway.com/training/corporate-credit-analysis

Qua đó cho thấy, để có kiến thức không bị lạc hậu, các bạn sinh viên cần chủ động tự trang bị thêm kiến thức cho mình.

[1] http://www.facebook.com/notes/le-tan-luat/tham-luan-ve-nghien-cuu-khoa-hoc-va-dao-tao-dai-hoc-tai-dh-ngan-hang-tp-hcm/200811133262310

[2] Học phần một xem:

http://www.buh.edu.vn/Upload/633986315826513786.pdf

và Học phần hai xem:

http://www.buh.edu.vn/Upload/633986315431826325.pdf

[3] Xem:

http://www.docstoc.com/docs/56605515/Credit-Analysis-and-Risk-Management

Vài kinh nghiệm viết khóa luận

Bài này chỉ bàn về kinh nghiệm viết khóa luận trong điều kiện hiện tại của các trường ĐH VN.

- Chọn đề tài: Đi thi, giảng viên là người ra đề còn bạn là người phải giải đề đó; Viết khóa luận, bạn là người ra đề cho chính mình. Vậy, bạn nên ra đề sao cho mình dễ làm nhất, tránh "tự mua dây buộc mình"; chọn đề tài quá khó so với khả năng cho nên không làm tốt được.

- Với từng chủ đề bạn có nhiều cách đặt vấn đề khác nhau, căn cứ vào cách đặt vấn đề sẽ có thể tìm ra cách giải quyết vấn đề đó. Ví dụ, hiện nay nhiều NH đang tăng vốn để tăng khả năng cạnh tranh. Điều này có nghĩa là họ đang chấp nhận giả định rằng NH nhỏ có nhược điểm hơn so với NH lớn. Thế nhưng nhiều nước, kể cả Mỹ, bên cạnh các NH lớn, vẫn tồn tại các NH nhỏ. Điều này chứng tỏ NH nhỏ vẫn có ưu thế của chúng.

Vậy, với thực trạng VN hiện nay, khi có nhiều NH chưa có khả năng tăng vốn liệu bạn có thể nghiên cứu ưu điểm của NH nhỏ để giúp các NH chưa thể nâng vốn này có thể tăng tính cạnh tranh và qua nghiên cứu này cũng cho thấy NHNN cần có cái nhìn toàn diện hơn khi qui định quy mô NH?

Như vậy, nếu cách đặt vấn đề tốt, có chứng cứ tốt và lập luận phù hợp thì có nhiều đề tài tưởng như người ta đã làm rồi bạn vẫn có thể tiếp tục làm tốt.

- Khi viết khóa luận, mỗi chương có vai trò khác nhau nhưng phải liên thông với nhau. Tránh tình trạng có những vấn đề nêu ra ở các chương trước nhưng chẳng liên quan gì các chương sau; hoặc có đế cập ở các chương sau mà chằng ăn nhập gì với các chương trước.

Ví dụ, có bạn ở Chương 2, khi viết về thực trang NH đã dành rất nhiều trang nói về cơ cấu tổ chức, các phòng ban của NH, nhưng sau đó nội dung này chẳng dùng làm gì cả. Nếu bạn delete nội dung này thì cũng chẳng ảnh hưởng gì tới các nội dung phần sau. Điều đó có nghĩa là nội dung này thừa.

Ví dụ khác, có bạn đang đề xuất về cách thức nâng cao hiệu quả họa động cho vay thì lại đề xuất cần tăng cường huy động vốn. Đề xuất này, có thể hợp lý nếu đã phân tích trước đó rằng, chẳng hạn, tín dụng còn nghèo nàn về sản phẩm do không đủ vốn cho vay. Còn nếu không có phân tích nào như thế thì đề xuất này là không khoa học vì thiếu cơ sở và chẳng liên quan. Hơn nữa, nếu cứ đề xuất không cần cơ sở thì chỉ cần viết phần đề xuất là đủ, không cần cả một khóa luận.

- Phạm vi đề xuất phụ thuộc vào phạm vi bạn đã nghiên cứu. Ví dụ, nếu bạn chỉ nghiên cứu tại một chi nhánh của một ngân hàng mà đề xuất NHNN phải thay đổi một quy chế nào đó thì không thuyết phục. Chi nhánh mà bạn đang nghiên cứu chưa chắc đại diện cho các NH Việt Nam nói chung.