Bài “Tín dụng - lãi suất” có bàn về nghịch lý khi tăng lãi suất cho vay nhu cầu tín dụng vẫn tăng. Note này cho thấy (1) tăng lãi suất có thể chưa phải là cách thức tốt để hạn chế nhu cầu vay và (2) lý giải nhờ đâu ngân hàng có thể tăng lãi suất đồng thời tăng dự nợ mà không bị rủi ro. Vì chưa có điều kiện nghiên cứu thực nghiệm tình hình Việt Nam nên note này chỉ dừng lại ở những lý giải đơn thuần bằng lý thuyết.
Thông tin không cân xứng (asymmetric information) xảy ra khi trong một giao dịch bên này có lợi thế thông tin hơn bên kia. Ví dụ, người đi vay biết rõ các hoạt động và dự án của họ hơn ngân hàng. Thông tin không cân xứng sẽ gây ‘sự lựa chọn trái ngược’ (adverse selection) và ‘rủi ro đạo đức’ (moral hazard). Sự lực chọn trái ngược lần đầu tiên được Akerlof (1970) đề cập với tên gọi ‘vấn đề “quả chanh”’ (“lemon” problem). Trong thị trường tín dụng, vì thông tin không cân xứng, ngân hàng không phân biệt được khách hàng tốt với khách hàng xấu nên cho vay với cùng một lãi suất bình quân sẽ làm cho khách hàng tốt không có lợi do phải vay với lãi suất cao hơn lãi suất mà đáng ra họ phải trả vì thế họ sẽ không vay nữa; trong khi đó, khách hàng xấu thì có lợi vì vay rẽ hơn lãi suất thật sự họ phải trả nên sẽ tiếp tục vay. Điều này làm cho thị trường chỉ còn lại khách hàng xấu.
Rủi ro đạo đức xảy ra khi ngân hàng có ít thông tin về hoạt động cũng như các dự án của người đi vay hơn bản thân ngươi đi vay cho nên người đi vay có thể không thực hiện tốt nhất hợp đồng vay; chẳng hạn, người đi vay chọn lựa cách sử dụng tiền vay nhiều rủi ro hơn để có lợi nhuận cao hơn. Nếu họ thành công thì vẫn chỉ trả ngân hàng số tiền cố định,và hưởng toàn bộ lợi nhận siêu ngạch nhờ chấp nhận rủi ro, nhưng nếu thất bại thì ngân hàng sẽ cũng chịu thiệt hại.
Với hai vấn nạn trên ngân hàng có thể rủi ro hơn nếu họ tăng lãi suất để giảm nhu cầu vay của khách hàng. Các ngân hàng thường chỉ nâng lãi suất để cân bằng cung cầu trong một giới hạn nhất định, sau đó, để tránh rủi ro, sẽ từ chối cho vay hay còn gọi là hạn chế tín dụng (credit rationing). Khi ngân hàng hạn chế tín dụng trên thị trường sẽ có hiện tượng, với mức lãi suất thị trường, còn có nhiều người muốn vay, nhưng ngân hàng từ chối các yêu cầu vay đó.
Đảm bảo tín dụng có thể giúp ngân hàng giảm tình trạng thông tin không cân xứng và cải thiện tình trạng hạn chế tín dụng. Có hai lý thuyết giải thích điều này. Thứ nhất, đảm bảo tín dụng giúp giảm rủi ro đạo đức. Nếu rủi ro xảy ra ngân hàng sẽ bán đảm bảo thu hồi nợ và người đi vay thường bị thiệt nếu bị bán tài sản cho nên không muốn sử dụng tiền vay mạo hiểm. Một khi đảm bảo tín dụng chưa đủ bù đắp rủi ro thì lãi suất cho vay vẫn có thể cao. Trong trường hợp này, lãi suất cao và đảm bảo tín dụng được coi là hai công cụ bổ sung nhau.
Thứ hai, đảm bảo tín dụng có thể giúp người đi vay tự phát tín hiệu (signalling) tư cách tín dụng tốt của mỉnh. Những người đi vay có tình hình tài chính và dự án tốt, không sợ bị bán tài sản do không trả được nợ thường xung phong dùng đảm bảo tín dụng để được vay với các điều kiện khác dễ dãi hơn như lãi suất ưu đãi, thời hạn dài, thủ tục mau lẹ…. Ngược lại, khác hàng xấu biết khả năng thất bại trong việc trả tiền vay cao nên thường không muốn dùng đảm bảo tín dụng. Như vậy, thông qua lựa chọn có dùng đảm bảo tín dụng hay không ngân hàng có thể nhận biết khác hàng nào là khác hàng tốt và khách hàng nào là khác hàng xấu.
Các nghiên cứu thực nghiệm thường cho kết quả ủng hộ lý thuyết thứ nhất.
Tóm lại, do thông tin không cân xứng ngân hàng khó có thể dùng lãi suất cao để hạn chế nhu cầu vay vì như thế sẽ rất rủi ro cho ngân hàng. Đảm bảo tín dụng có thể giúp ngân hàng vừa tăng lãi suất vừa tăng dư nợ nhờ giảm hậu quả tình trạng thông tin không cân xứng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét