Danh sách Blog của Tôi

Thứ Bảy, 26 tháng 2, 2011

Ai làm chính sách vĩ mô ở Việt Nam?

(Đăng trên TBKTSG: http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/bandocviet/49005/Lo-hong-do-dau?.html)

Ông Lê Đức Thúy cho rằng “Nhiều NHTM đã kiếm lời trên lưng nhà nước" vì “Chúng ta giữ lại LS tái chiết khấu, tái cấp vốn quá thấp. Những NH lớn mua TPCP thậm chí cao hơn LS huy động, chịu lỗ một chút sau đó lên thị trường liên NH cho vay lại 15-20%”. [1]

Thiết nghĩ, trong chuyện này, ông Thúy chưa chỉ đúng người phải chịu trách nhiệm.

Trái phiếu Chính phủ là một nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước. [2a, 2b] Đối với ngân hàng thường mại, nó là một phương tiện để đầu tư và dự trữ cho thanh khoản. [3] Lãi suất trái phiếu do Bộ Tài chính quy định [4a, 4b]. Trên cơ sở tính toán lợi ích, các ngân hàng thương mại sẽ tham gia mua trái phiếu. Đương nhiên, họ sẽ mua nếu có lợi cho mình. Khi đó, họ đã góp phần thực hiện kế hoạch ngân sách nhà nước.

Lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. [5a, 5b] Để có tỷ lê tăng trưởng tín dụng (thực tế và kế hoạch) rất cao vừa qua [6a, 6b], Ngân hàng Nhà nước phải khuyến khích và tạo thêm thanh khoản cho các ngân hàng thương mại và như thế, hai loại lãi suất trên đã thực hiện nhiệm vụ này. Ngân hàng Nhà nước đã căng cứ tình hình thực tế và mục đích của mình để quy định lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn. [7a, 7b]

Như vậy, việc các ngân hàng thương mại mua trái phiếu Chính phủ rồi thực hiện hoạt động tái chiết khấu hay tái cấp vốn để tiếp tục cho vay là phản ứng hoàn toàn phù hợp với những gì Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước mong muốn.

Hiện các chính sách vĩ mô đó được coi là có vấn đề. Các cơ quan đã làm ra các chính sách đó lẽ ra phải nhận trách nhiệm của mình và ông Thúy với tư cách người đứng đầu Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia phải chỉ ra ai là người có trách nhiệm. Thế nhưng, ông lại đỗ lỗi cho các chủ thể đơn thuần hoạt động theo các chính sách đó.

[1] http://www.baomoi.com/Home/TaiChinh/cafef.vn/Ong-Le-Duc-Thuy-Nhieu-NHTM-da-kiem-loi-tren-lung-nha-nuoc-do-LS-tai-chiet-khau-tai-cap-von-qua-thap/5769900.epi

[2a]http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1351583/2126549/2117088?p_folder_id=15263855&p_recurrent_news_id=15264375

[2b]http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1351583/2126549/2117088?p_folder_id=35823696&p_recurrent_news_id=35867188

[3] http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=192054

[4a] http://www.khaitri.vn/DirectFiles/S40/P40D19520F2.pdf

[4b] http://moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=26144

[5a] http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/07/07/5032-2/

[5b] http://www.thuvienphapluat.vn/archive/Luat/Luat-Ngan-hang-Nha-nuoc-Viet-Nam-2003-sua-doi-

[6a] http://atpvietnam.com/vn/thongtinnganh/44662/index.aspx

[6b] http://vneconomy.vn/2011022307580195P0C6/thong-doc-doanh-nghiep-bat-dau-ban-ngoai-te-ra-thi-truong.htm

[7a]http://www.sbv.gov.vn/wps/SBVDataStore/upload/VBQPPL/NHNN/2010/QUYETDINH/2010_11_5_102839_124.pdf

[7b]http://www.sbv.gov.vn/wps/SBVDataStore/upload/VBQPPL/NHNN/2011/QUYETDINH/2011_02_17_34247_306.pdf

Thứ Năm, 24 tháng 2, 2011

Một số vấn đề liên quan lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tai chiết khấu

Note này bàn về hai vấn đề (1) lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu là gì theo quy đinh pháp luật hiện hành và (2) một số vấn đề về cách hiểu chưa chính xác có liên quan tới lãi suât này trong hoạt động ngân hàng.


Nhà báo Nguyễn Vạn Phú đã giải thích thế nào là lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tài chiết khấu theo ngữ nghĩa của nó.[1] Note này bàn về hai loại lãi suất đó theo quy định của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực ngân hàng.


Điều 10, 11 và 12 Luật Ngân hàng nhà nước mới có hiệu lực vào ngày 1-1-2011 quy định như sau: [2]

Điều 10. Công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ.

Điều 11. Tái cấp vốn

1. Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng.

2. Ngân hàng Nhà nước quy định và thực hiện việc tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng theo các hình thức sau đây:

a) Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá;

b) Chiết khấu giấy tờ có giá;

c) Các hình thức tái cấp vốn khác.

Điều 12. Lãi suất

1. Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi.

2. Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, Ngân hàng Nhà nước quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác.


Như vậy, theo Luật Ngân hàng Nhà nước ‘tái cấp vốn’ là một công cụ của chính sách tiền tệ, được thực hiện thông qua ba hình thức:

a) Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá;

b) Chiết khấu giấy tờ có giá;

c) Các hình thức tái cấp vốn khác.


Do đó, lãi suất tái cấp vốn chính là lãi suất áp dụng cho ba hình thức tái cấp vốn nói trên. Trong đó lãi suất tái chiết khấu là một trong số loại lãi suất tái cấp vốn.


Vấn đề trên cũng được quy định tương tự trong Luật Ngân hàng Nhà nước cũ [3]


Tuy nhiên, theo các quyết định của Ngân hàng Nhà nước thì có thể hiểu lãi suất tái cấp vốn chính là lãi suất áp dụng cho các hình thức a) và c) còn lãi suất tái chiết khấu thì áp dụng cho hình thức b); như cách giải thích của ông Nguyễn Vạn Phú:

- Quyết định số 2620/QĐ-NHNN ra ngày 05-11-2010 quy định Lãi suất tái chiết khấu là 7% và lãi suất tái cấp vốn là 9% [4]

- Sau đó, ngày 17-02-2011 NHNN lại ra Quyết định số 271/QĐ-NHNN thay đổi Lãi suất tai cấp vốn từ 9% nói trên lên 11%, nhưng chưa có thay đổi về lãi suất tái chiết khấu. [5]


Có nhiều trái phiếu Chính phủ và lãi suất tái chiết khấu thấp được coi là một trong những nguyên nhân làm cho một số ngân hàng thương mại năm qua có lãi lớn. Tuy nhiên lý giải rằng vì “…có thời điểm các ngân hàng khó khăn về thanh khoản, lúc đó những ngân hàng nào có nhiều giấy tờ có giá đem cầm cố vay vốn từ Ngân hàng Nhà nước với lãi suất cực thấp, sau đó đem cho các ngân hàng khác vay lại hoặc cho vay ra ngoài với lãi suất cao hơn nhiều là đã thu được khoản lời lớn” [6] là chưa đầy đủ. Vấn đề còn là, các ngân hàng này trước đây đã mua trái phiếu Chính phủ với lãi suất từ 10,3% cho tới 12,3% [7] nay chiết khấu lại với lãi suất tái chiết khấu 7% thì đã có lãi rồi, chưa cần nói tới việc cho vay lãi suất cao hơn. Giá trái phiếu tái chiết khấu với lãi suất 7% sẽ cao hơn giá mua với lãi suất 10,3% đến 12,3% lúc đầu và chênh lệch này chính là lãi của ngân hàng. (Ghi nhớ: Lãi suất thấp thì giá trái phiếu cao và ngược lai)


Nhân tiện, có một comment trên FB có liên quan, thiết nghĩ là không chính xác:

Lượng trái phiếu hiện nay phần lớn do 5 NHTM lớn nắm giữ, các NH này mua TP với LS thấp nhưng hiện nay lãi suất huy động và cho vay cao, LS liên NH cũng cao do các NH nhỏ thanh khoản thấp nên các NHTM sẽ "trúng đậm" do LS TCV thấp. Các NHTM đang kiếm lời lớn trên ngân sách nhà nước nên phải tăng LS TCV lên.(thầy đề suất tăng lên 13-14% lận)

Còn tín phiếu và thương phiếu thì trên thị trường không đáng kể nên LS TCK giữ nguyên.

Bắt đầu từ tuần này, hoạt động TCV của NHNN sẽ thông qua 3 cái là: Trái phiếu, hồ sơ tín dụng có đảm bảo (lớn), và Vốn tự có của các NHTM (đi cầm cái giấy phép kinh doanh).

Tuần sau, dự định sẽ tăng dự trữ bắt buộc thêm vài % nữa.” [8]

- Nếu NHTM mua TP với lãi suất thấp có nghĩa là cho Chính phủ vay với lãi suất thấp nhưng hiện nay huy động và cho vay với lãi suất cao thì sẽ bị lỗ chứ sao “trúng đậm” được? Vì vậy họ đang đóng góp cho ngân sách chứ sao lại “đang kiếm lời lớn trên ngân sách nhà nước” được? Ngoài ra, nếu có tăng lãi suất tái cấp vốn lên hơn nữa cũng không ảnh hưởng vì khi các ngân hàng này tái chiết khấu trái phiếu Chính phủ thì Ngân hàng Nhà nước vẫn áp dụng lãi suất tái chiết khấu là 7% nói trên.


Giả sử có chuyện lãi suất này mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng thương mại nhưng không có lợi cho Chính phủ thì Chính phủ có thay đổi lãi suất tái chiết khấu chỉ vì lý do muôn làm giảm lợi nhuận ngân hàng không? Tất nhiên là không. Lý do, lúc phát hành trái phiếu Chính phủ đưa ra mức lãi suất dựa trên tính toan tính hợp lý của mình và dựa vào đó ngân hàng chấp nhận mua. Trong quá trình giữ trái phiếu này, Chính phủ thấy không có lợi cho mình rồi đơn phương thay đổi lãi suất tái chiết khấu để giành phần hơn về mình rồi gây thiệt hại cho ngân hàng thương mại thì liệu có chính đáng không? Nên nhớ, chức năng chính của Chính phủ không phải là tìm kiếm lợi nhuận cho bản thân mình cho nên không thể kinh doanh chụp giựt như thế. Đương nhiên Chính phủ có thể tăng lãi suất tái chiết khấu cho mục đích điều hành chính sách tiền tệ của mình vì lợi ích chung của nền kinh tế, ví dụ chống lạm phát, cho nên có thể làm hy sinh lợi ích của một số đối tượng trong nền kinh tế, chẳng hạn như ngân hàng. Đó lại là chuyện hoàn toàn khác, chứ không phải vì mục đích vô lý vừa nêu. Về phần các ngân hàng thương mại, cho dù lãi suất tái chiêt khấu tăng, nếu họ vẫn giữ trái phiếu cho tới lúc đến hạn thì vẫn nhận được mức sinh lời mình muốn (Yield to maturity- YTM), còn nếu tái chiết khấu rồi cho vay lại được với lãi suất cao hơn thì họ vẩn không bị thiệt.


- Cầm cố giấy phép kinh doanh thì… chịu. Cái này phải hỏi anh em tín dụng! (Xem thêm quy chế Về việc ban hành quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng [9])

[1] http://nguyenvanphu.blogspot.com/2011/02/u-loai-lai-suat.html

[2] http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/07/07/5032-2/

[3] http://www.thuvienphapluat.vn/archive/Luat/Luat-Ngan-hang-Nha-nuoc-Viet-Nam-2003-sua-doi-10-2003-QH11-vb51048t10.aspx

[4]http://www.sbv.gov.vn/wps/SBVDataStore/upload/VBQPPL/NHNN/2010/QUYETDINH/2010_11_5_102839_124.pdf

[5]http://www.sbv.gov.vn/wps/SBVDataStore/upload/VBQPPL/NHNN/2011/QUYETDINH/2011_02_17_34247_306.pdf

[6] http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/nganhang/47669/

[7] http://cafef.vn/20100720054313322CA34/bieu-do-lai-suat-dang-le-cong-sao-lai-thang.chn

[8] http://www.facebook.com/profile.php?id=100000252331435

[9] http://luat.xalo.vn/phap-luat/Quyet-dinh/135856799/Quyet-dinh-Ban-hanh-Quy-che-the-chap-cam-co-tai-san-va-bao-lanh-vay-von-ngan-hang.html

Thứ Ba, 22 tháng 2, 2011

Có thể tăng lãi suất để hạn chế nhu cầu vay?

Bài “Tín dụng - lãi suất” có bàn về nghịch lý khi tăng lãi suất cho vay nhu cầu tín dụng vẫn tăng. Note này cho thấy (1) tăng lãi suất có thể chưa phải là cách thức tốt để hạn chế nhu cầu vay và (2) lý giải nhờ đâu ngân hàng có thể tăng lãi suất đồng thời tăng dự nợ mà không bị rủi ro. Vì chưa có điều kiện nghiên cứu thực nghiệm tình hình Việt Nam nên note này chỉ dừng lại ở những lý giải đơn thuần bằng lý thuyết.

Thông tin không cân xứng (asymmetric information) xảy ra khi trong một giao dịch bên này có lợi thế thông tin hơn bên kia. Ví dụ, người đi vay biết rõ các hoạt động và dự án của họ hơn ngân hàng. Thông tin không cân xứng sẽ gây ‘sự lựa chọn trái ngược’ (adverse selection) và ‘rủi ro đạo đức’ (moral hazard). Sự lực chọn trái ngược lần đầu tiên được Akerlof (1970) đề cập với tên gọi ‘vấn đề “quả chanh”’ (“lemon” problem). Trong thị trường tín dụng, vì thông tin không cân xứng, ngân hàng không phân biệt được khách hàng tốt với khách hàng xấu nên cho vay với cùng một lãi suất bình quân sẽ làm cho khách hàng tốt không có lợi do phải vay với lãi suất cao hơn lãi suất mà đáng ra họ phải trả vì thế họ sẽ không vay nữa; trong khi đó, khách hàng xấu thì có lợi vì vay rẽ hơn lãi suất thật sự họ phải trả nên sẽ tiếp tục vay. Điều này làm cho thị trường chỉ còn lại khách hàng xấu.

Rủi ro đạo đức xảy ra khi ngân hàng có ít thông tin về hoạt động cũng như các dự án của người đi vay hơn bản thân ngươi đi vay cho nên người đi vay có thể không thực hiện tốt nhất hợp đồng vay; chẳng hạn, người đi vay chọn lựa cách sử dụng tiền vay nhiều rủi ro hơn để có lợi nhuận cao hơn. Nếu họ thành công thì vẫn chỉ trả ngân hàng số tiền cố định,và hưởng toàn bộ lợi nhận siêu ngạch nhờ chấp nhận rủi ro, nhưng nếu thất bại thì ngân hàng sẽ cũng chịu thiệt hại.

Với hai vấn nạn trên ngân hàng có thể rủi ro hơn nếu họ tăng lãi suất để giảm nhu cầu vay của khách hàng. Các ngân hàng thường chỉ nâng lãi suất để cân bằng cung cầu trong một giới hạn nhất định, sau đó, để tránh rủi ro, sẽ từ chối cho vay hay còn gọi là hạn chế tín dụng (credit rationing). Khi ngân hàng hạn chế tín dụng trên thị trường sẽ có hiện tượng, với mức lãi suất thị trường, còn có nhiều người muốn vay, nhưng ngân hàng từ chối các yêu cầu vay đó.

Đảm bảo tín dụng có thể giúp ngân hàng giảm tình trạng thông tin không cân xứng và cải thiện tình trạng hạn chế tín dụng. Có hai lý thuyết giải thích điều này. Thứ nhất, đảm bảo tín dụng giúp giảm rủi ro đạo đức. Nếu rủi ro xảy ra ngân hàng sẽ bán đảm bảo thu hồi nợ và người đi vay thường bị thiệt nếu bị bán tài sản cho nên không muốn sử dụng tiền vay mạo hiểm. Một khi đảm bảo tín dụng chưa đủ bù đắp rủi ro thì lãi suất cho vay vẫn có thể cao. Trong trường hợp này, lãi suất cao và đảm bảo tín dụng được coi là hai công cụ bổ sung nhau.

Thứ hai, đảm bảo tín dụng có thể giúp người đi vay tự phát tín hiệu (signalling) tư cách tín dụng tốt của mỉnh. Những người đi vay có tình hình tài chính và dự án tốt, không sợ bị bán tài sản do không trả được nợ thường xung phong dùng đảm bảo tín dụng để được vay với các điều kiện khác dễ dãi hơn như lãi suất ưu đãi, thời hạn dài, thủ tục mau lẹ…. Ngược lại, khác hàng xấu biết khả năng thất bại trong việc trả tiền vay cao nên thường không muốn dùng đảm bảo tín dụng. Như vậy, thông qua lựa chọn có dùng đảm bảo tín dụng hay không ngân hàng có thể nhận biết khác hàng nào là khác hàng tốt và khách hàng nào là khác hàng xấu.

Các nghiên cứu thực nghiệm thường cho kết quả ủng hộ lý thuyết thứ nhất.

Tóm lại, do thông tin không cân xứng ngân hàng khó có thể dùng lãi suất cao để hạn chế nhu cầu vay vì như thế sẽ rất rủi ro cho ngân hàng. Đảm bảo tín dụng có thể giúp ngân hàng vừa tăng lãi suất vừa tăng dư nợ nhờ giảm hậu quả tình trạng thông tin không cân xứng.

Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2011

Trách nhiệm nhà báo và lương tâm chuyên gia

(Đăng trên TBKTSG: http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/bandocviet/48511/Phong-van-chuyen-gia.html)

Người viết không có chuyên môn làm báo, nhưng cảm thấy có nhiều bất ổn trong việc sử dụng ý kiến chuyên gia nên muốn nêu lên vài kiến nghị cho cả phóng viên lẫn các chuyên gia trả lời phỏng vấn.

1. Các phóng viên, bên cạnh việc thu thập thông tin những vấn đề nóng bỏng của đất nước, thường phỏng vấn chuyên gia để làm cho bài viết vừa có tính thời sự vừa có tính chuyên môn cao. Tuy nhiên, để sử dụng tốt ý kiến chuyên gia cần chú ý mấy vấn đề sau:

- Với sự phân công lao động xã hội chuyên sâu như hiện nay, các chuyên gia thường phải tập trung vào lĩnh vực hẹp của mình thì mới có thể tao được thế mạnh cạnh tranh so với các đồng nghiệp của họ, cho nên khó ai có thể nghiên cứu hoặc trãi nghiệm sâu nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì thế, trước khi phỏng vấn ai, phóng viên nên tìm hiểu người mình định phỏng vấn, nếu là nhà khoa học thì chuyên nghiên cứu lĩnh lĩnh vực nào và có các công bố nghiên cứu ở đâu; còn nếu là người làm trong thực tế thì họ đã kinh qua những chức vụ và công việc cụ thể nào để phỏng vấn đúng sở trường của họ. Nếu chưa có điều kiện tìm hiểu như thế thì khi phỏng vấn, nên phỏng vấn họ chính những điều đó trước tiên. Người nào cho rằng lĩnh vực nào cũng có thể trả lời phỏng vấn được thì họ rất khó có thể cho ý kiến chính xác và sâu sắc.

Cường độ trả lời phỏng vấn cũng là một tín hiệu cho thấy chất lượng của các ý kiến. Trước mỗi vấn đề, cần có thời gian mới có thể nghiên cứu sâu và phân tích kỹ rồi mới đưa ra kết luận tin cậy được. Thế nên, các chuyên gia sản sinh ra các ý kiến đều đặn hàng ngày, ngay cả hàng tuần, thì khó là ý kiến có giá trị vì khoảng thới gian ngắn như vậy rất khó để họ có phát hiện mới trong lĩnh vực của mình.

- Nên kiểm tra chéo ý kiến phỏng vấn. Cùng một vấn đề có thể có nhiều cách lý giải nên nếu phóng viên lấy ý kiến chuyên gia này kiểm chứng ở chuyên gia khác thì sự xác nhận hoặc phản biện trái ngược đều có thể giúp làm vấn đề thêm rõ hơn. Điều này cũng có tác dụng giúp phóng viên phân biệt được ý kiến nào có giá trị, khi vấn đề phỏng vấn nằm ngoài kiến thức chuyên môn của mình.

- Sau khi phỏng vấn phóng viên nên theo dõi để đối chiếu với kết quả thực tế nhằm nhận biết tính chính xác của các ý kiến chuyên gia. Việc làm này giúp phóng viên nhận ra ai là người trả lới phỏng vấn tốt và ai chỉ nói bừa.

- Lắng nghe và tận dụng phản hồi của đọc giả. Thường khi thấy nội dung nội dung bài viết tâm đắc hoặc có gì không chính xác thì đọc giả sẽ phản hồi. Người đọc có lý của họ. Nên tận dụng những người này để nắm thêm vấn đề. Bản thân người viết đã đóng góp nhiều ý kiến cho nhiều tờ báo khác nhau nhưng rất ít tờ báo trả lời phản hồi và tiếp tục trao đổi. Chưa biết ý kiến đó là đúng hay sai, nhưng đó có thể là những gợi ý cho tác giả bài báo những khía cạnh chưa nghĩ đến khi viết.

2. Người được phỏng vấn nên có trách nhiệm với những phát biểu của mình. Cần coi cơ hội trả lời phỏng vấn là lúc đem kết quả nghiên cưu và kinh nghiệm của mình đóng góp cho xã hội rồi qua đó khẳng định mình thông qua những ý kiến đóng góp có giá trị. Tránh háo danh mà phát biểu lung tung cốt sao để có tên mình trên mặt báo. Nếu chủ đề không thuộc phạm vi hiểu biết hoặc ngoài lĩnh vực mình nghiên cứu thì nên mạnh dạn từ chối. Những ý kiến chủ quan, không có cơ sở khoa học hoặc thiếu trách nhiệm dẩn dần cũng sẽ bộc lộ. Kết quả, trước hết làm rối loạn thông tin trong xã hội sau là gây hại cho uy tín của bản thân.

Tóm lại, doanh nghiệp và người dân đang đối diện tình trạng ít thông tin để ra quyết định, các phóng viên và chuyên gia nên có nên có trách nhiệm và lương tâm để, nếu không cung cấp thêm được thông tin cho họ thì cũng đừng làm tệ hơn tình hình.

Thứ Sáu, 18 tháng 2, 2011

Kiểm chứng ý kiến Ts Cao Sĩ Kiêm bằng kiến thức Phân tích tài chính doanh nghiệp căn bản

1. Ông Cao Sĩ Kiêm cho rằng “…nếu lãi bình quân của doanh nghiệp rơi vào khoảng khoảng 22-25% trong khi lãi suất cho vay từ 19-20% thì doanh nghiệp sẽ rất khó để trụ được”.

Đúng là nếu lãi suất vay NH cao thì không có lợi cho doanh nghiệp và nếu quá cao quá thì doanh nghiệp sẽ bị lỗ, nhưng ví dụ trên của ông Kiêm e là không chính xác.

Vì ông không nói rõ lãi bình quân của doanh nghiệp ở đây là tỷ suất lãi tính trên vốn sở hữu (Return on Equity- ROE) hay trên tài sản (Return on Assets-ROA), nên hãy xét cả hai tình huống:

- Con số 22- 25% mà ông Kiêm nói là ROE

ROE là tỷ lệ giữa lợi nhận ròng chia cho vốn sở hữu. Lợi nhuận ròng của doanh nghiệp đã loại trừ lãi vay NH. Cho nên ROE mà đạt 22-25% thì mặc nhiên đã loại trừ phần trả lãi 19-20% cho NH rồi, sao lại có chuyện “khó để trụ được”?

- Con số trên là ROA

Hãy xét ví dụ doanh nghiệp có cơ cấu nợ và vốn sở hữu sau:

Nợ: 60 tỷ đồng (60%)

Vốn sở hữu: 40 tỷ đồng (40%.)

Tổng nguồn vốn = Tổng tài sản: 100 tỷ đồng (100%)

Giả sử doanh nghiệp này đi vay với lãi suất 20% và tỷ suất lợi nhận lợi nhuận (ROA) đạt được là 22% (lấy con số lãi vay cao nhất và tỷ suất lợi nhuận thấp nhất).

Với ROA là 22% có nghĩa doanh nghiệp lãi 22 tỷ đồng (100 tỷ đồng X 22%)

Lãi suất vay NH 20% thì doanh nghiệp phải trả lãi 12 tỷ đồng (60 tỷ đồng X 20%)

Vậy, lợi nhuận ròng sẽ là 10 tỷ đồng (22 tỷ đồng – 12 tỷ đồng). Trong trường hợp này ROE sẽ là 25% (10 tỷ đồng/40 tỷ đồng). Muốn doanh nghiệp này bị lỗ thì lãi suất vay NH phải trên 36,67%. Lúc đó lợi nhuận của doanh nghiệp vẫn là 22 tỷ còn lãi vay phải trả NH mới cao hơn 22 tỷ đồng (60 tỷ đồng X >36,67%).

Phân tích vừa rồi vẫn có ý nghĩa cho trường hợp nợ của doanh nghiệp biến thiên từ 0 cho tới gần 100%.

Tóm lại, cho dù con số ông Kiêm nói là ROE hay ROA thì ví dụ mà ông đưa ra vẫn không chính xác.

2. Ông Kiêm còn nói “Các nước, hệ số doanh nghiệp vay ngân hàng rất ít mà chủ yếu là vốn tự có, vay ngân hàng chỉ là vốn bổ sung. Doanh nghiệp Việt Nam thì vay là chủ yếu nên rời ngân hàng ra là gặp khó khăn. Do vậy, trong tình hình lãi suất cho vay cao thì phần lợi nhuận thu về chỉ đủ trả lãi ngân hàng nên nhiều doanh nghiệp chỉ hoạt động cầm chừng

Trở lại ví dụ trên, giả sử doanh nghiệp vay NH tới 90% (giả sử đại diện cho doanh nghiệp VN) thì điều gì xảy ra?

Nợ: 90 tỷ đồng (90%)

Vốn sở hữu: 10 tỷ đồng (10%.)

Tổng nguồn vốn = Tổng tài sản: 100 tỷ đồng (100%)

Vẫn giả sử doanh nghiệp này đi vay với lãi suất 20% và tỷ suất lợi nhận lợi nhuận đạt được là 22%.

Với ROA là 22% có nghĩa doanh nghiệp lãi 22 tỷ đồng (100 tỷ đồng X 22%)

Lãi suất vay NH 20% thì doanh nghiệp phải trả lãi 18 tỷ đồng (90 tỷ đồng X 20%)

Vậy, lợi nhuận ròng sẽ là 4 tỷ đồng (22 tỷ đồng – 18 tỷ đồng). Trong trường hợp này ROE sẽ là 40% (4 tỷ đồng/10 tỷ đồng). Muốn doanh nghiệp này bị lỗ thì lãi suất vay NH phải trên 24,44%. Lúc đó lợi nhuận của doanh nghiệp vẫn là 22 tỷ còn lãi vay phải trả NH mới cao hơn 22 tỷ đồng (90 tỷ đồng X >24,44%).

Như vậy, nếu doanh nghiệp có nợ càng nhiều thì với chênh lệch ROA và lãi suất vay NH như ông Kiêm nói sẽ cho ROE càng cao do yếu tố đòn bẩy (leverage) nhưng sẽ rủi ro trong hoạt động sẽ càng cao.

Tóm lại, doanh nghiệp vay nhiều hơn vốn sở hữu thì bất lợi trong kinh doanh, chẳng hạn như khi lãi suất vay tăng thì dễ bị rủi ro hoặc kinh doanh bị lỗ thì vì vốn sở hữu mỏng sẽ "khó để trụ được", chứ không phải bất lợi ở những chỗ như ông Kiêm đã phân tích.

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2011

Vài thông tin để so sánh về nội dung môn Tín dụng ngân hàng tại Đại học ngân hàng với một số nước

“Tham luận về nghiên cứu khoa học và đào tạo đại học” có nói “tài lieu môn Tín dụng ngân hàng hiện nay chỉ tập trung hoạt động tín dụng truyên thống, thiếu mảng quản trị danh mục tín dụng và sử dụng các phái sinh để quản lý rủi ro, chưa đề cập đây đến các kỹ thuật thẩm định theo xu hướng hiện đại, và thậm chí chưa có các quy định quản lý rủi ro tín dụng theo Basel”. [1] Note này cung cấp thêm thông tin cho nhận định đó. (Vấn đề này đã được email cho các vị có chức năng của Khoa Tín dụng, Đại học Ngân hàng (BU) vào ngày18/12/2010 nhưng đến nay tròn ba tháng, chưa được hồi âm.)

Đề cương môn Tín dụng ngân hàng (dành cho đối tượng chính quy chuyên ngành) chia làm hai học phẩn. [2]

Chỉ cần so sánh với Pakistan đã thấy chương trình của BU lạc hậu thế nào. [3]

Còn đây là chương trình của University of the West Indies của Jamaica, một quốc đảo nhỏ:

http://myspot.mona.uwi.edu/economics/econ3066-credit-analysis-and-lending

Còn đây là chương trình của University of Southern Queensland:

http://www.usq.edu.au/course/specification/2010/FIN2108-S6-2010-EXT-TWMBA.html

Của UNSW:

http://www.asb.unsw.edu.au/schools/Courseoutlines/FINS3634%20Credit%20Analysis%20and%20Lending%20S12005.pdf

Đây là đề cương của khóa đào tạo ngằn hạn:

http://www.ethanhathaway.com/training/corporate-credit-analysis

Qua đó cho thấy, để có kiến thức không bị lạc hậu, các bạn sinh viên cần chủ động tự trang bị thêm kiến thức cho mình.

[1] http://www.facebook.com/notes/le-tan-luat/tham-luan-ve-nghien-cuu-khoa-hoc-va-dao-tao-dai-hoc-tai-dh-ngan-hang-tp-hcm/200811133262310

[2] Học phần một xem:

http://www.buh.edu.vn/Upload/633986315826513786.pdf

và Học phần hai xem:

http://www.buh.edu.vn/Upload/633986315431826325.pdf

[3] Xem:

http://www.docstoc.com/docs/56605515/Credit-Analysis-and-Risk-Management

Vài kinh nghiệm viết khóa luận

Bài này chỉ bàn về kinh nghiệm viết khóa luận trong điều kiện hiện tại của các trường ĐH VN.

- Chọn đề tài: Đi thi, giảng viên là người ra đề còn bạn là người phải giải đề đó; Viết khóa luận, bạn là người ra đề cho chính mình. Vậy, bạn nên ra đề sao cho mình dễ làm nhất, tránh "tự mua dây buộc mình"; chọn đề tài quá khó so với khả năng cho nên không làm tốt được.

- Với từng chủ đề bạn có nhiều cách đặt vấn đề khác nhau, căn cứ vào cách đặt vấn đề sẽ có thể tìm ra cách giải quyết vấn đề đó. Ví dụ, hiện nay nhiều NH đang tăng vốn để tăng khả năng cạnh tranh. Điều này có nghĩa là họ đang chấp nhận giả định rằng NH nhỏ có nhược điểm hơn so với NH lớn. Thế nhưng nhiều nước, kể cả Mỹ, bên cạnh các NH lớn, vẫn tồn tại các NH nhỏ. Điều này chứng tỏ NH nhỏ vẫn có ưu thế của chúng.

Vậy, với thực trạng VN hiện nay, khi có nhiều NH chưa có khả năng tăng vốn liệu bạn có thể nghiên cứu ưu điểm của NH nhỏ để giúp các NH chưa thể nâng vốn này có thể tăng tính cạnh tranh và qua nghiên cứu này cũng cho thấy NHNN cần có cái nhìn toàn diện hơn khi qui định quy mô NH?

Như vậy, nếu cách đặt vấn đề tốt, có chứng cứ tốt và lập luận phù hợp thì có nhiều đề tài tưởng như người ta đã làm rồi bạn vẫn có thể tiếp tục làm tốt.

- Khi viết khóa luận, mỗi chương có vai trò khác nhau nhưng phải liên thông với nhau. Tránh tình trạng có những vấn đề nêu ra ở các chương trước nhưng chẳng liên quan gì các chương sau; hoặc có đế cập ở các chương sau mà chằng ăn nhập gì với các chương trước.

Ví dụ, có bạn ở Chương 2, khi viết về thực trang NH đã dành rất nhiều trang nói về cơ cấu tổ chức, các phòng ban của NH, nhưng sau đó nội dung này chẳng dùng làm gì cả. Nếu bạn delete nội dung này thì cũng chẳng ảnh hưởng gì tới các nội dung phần sau. Điều đó có nghĩa là nội dung này thừa.

Ví dụ khác, có bạn đang đề xuất về cách thức nâng cao hiệu quả họa động cho vay thì lại đề xuất cần tăng cường huy động vốn. Đề xuất này, có thể hợp lý nếu đã phân tích trước đó rằng, chẳng hạn, tín dụng còn nghèo nàn về sản phẩm do không đủ vốn cho vay. Còn nếu không có phân tích nào như thế thì đề xuất này là không khoa học vì thiếu cơ sở và chẳng liên quan. Hơn nữa, nếu cứ đề xuất không cần cơ sở thì chỉ cần viết phần đề xuất là đủ, không cần cả một khóa luận.

- Phạm vi đề xuất phụ thuộc vào phạm vi bạn đã nghiên cứu. Ví dụ, nếu bạn chỉ nghiên cứu tại một chi nhánh của một ngân hàng mà đề xuất NHNN phải thay đổi một quy chế nào đó thì không thuyết phục. Chi nhánh mà bạn đang nghiên cứu chưa chắc đại diện cho các NH Việt Nam nói chung.

Thứ Ba, 15 tháng 2, 2011

Bài tham luận Hội thảo xây dựng chiến lược phát triển ĐHNH

Nghiên cứu khoa học đào tạo đại học[1]

Phạm Phú Quốc

Tấn Luật

Bài này góp ý những vấn đề cần cân nhắc trước khi xây dựng chiến lược phát triển Trường Đại học Ngân hàng Tp. HCM, liên quan đến nghiên cứu khoa học (NCKH) đào tạo đại học (ĐTĐH). Với mục đích đó, bài viết không nói về ưu điểm thành tựu trường đạt được trong thời gian qua, chỉ tập trung bàn về những vấn đề cần cải tiến. Nội dung liên quan NCKH ĐTĐH được đề cập dưới ba giác độ (1) quan điểm, (2) thực trạng (3) hướng giải quyết.

1. Nghiên cứu khoa học

Phần này chủ yếu bàn về NCKH đối với nghiên cứu viên giảng viên của trường.

1.1. Quan điểm về NCKH

NCKH tầm quan trọng của , tuy hai vấn đề không mới, nhưng cần được xác định trước khi xây dựng chiến lược NCKH cho trường. Điều này cần thiết, chúng liên quan tới các giải pháp cho thực trạng nghiên cứu hiện nay.

NCKH phải theo tiêu chuẩn hội nhập. NCKH nhiều cấp độ khác nhau. Ở cấp độ thấp, được coi hoạt động tìm hiểu những vấn đề, những kiến thức sẵn rồi tập hợp chúng lại theo mục đích của người nghiên cứu, nhằm giúp độc giả hiểu vấn đề đó hoặc để góp ý cho các hoạt động trong cuộc sống (Văn Như Cương, 2009). Dạng này chỉ phù hợp cho người mới tập làm nghiên cứu hoặc tích hợp vào các chương trình đào tạo bậc cử nhân trở xuống, để sinh viên làm quen với NCKH thông qua các bài tập nhóm, tiểu luận hoặc khóa luận.[2]

Trường đại học cần hướng tới NCKHcấp độ cao hơn, theo xu hướng hội nhập; ở đó, “nghiên cứu khoa học một hoạt động của con người nhằm mở rộng tri thức qua các phương pháp khoa học(Nguyễn Văn Tuấn, 2009). Trước tiên, công trình NCKH phải bổ sung kiến thức ngành nói riêng nhân loại nói chung. Muốn vậy, nhà nghiên cứu phải biết những công trình khoa học trong ngoài nước liên quan đến công trình của mình mới ước định được công trình đóng góp cho khoa học thực tiễn. Ngoài ra, công trình phải tuân thủ phương pháp NCKH theo trình tự như đặt câu hỏi (research question), thu thập thông tin hiện hành, đặt giả thuyết, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, diễn giải kết quả phân tích, công bố kết quả, tái kiểm định giả thuyết (Nguyễn Văn Tuấn, 2009).[3] Để kết quả nghiên cứu được cộng đồng khoa học thừa nhận, nhà nghiên cứu không chỉ phải cập nhật kiến thức mới nhất về lĩnh vực mình đang nghiên cứu còn phải sử dụng thành thạo các công cụ phân tích định tính định lượng phù hợp.

NCKH tầm quan trọng không kém hoạt động đào tạo. NCKH rất cần thiết để làm tăng uy tín học thuật từ đó làm tăng thứ hạng của trường. Trong xu hướng hội nhập, cách tính thứ hạng của các trường phụ thuộc nhiều vào các công trình khoa học được đăng trên các tạp chí uy tín, hiện nay các tạp chí quốc tế (theo Báo Tuổi Trẻ (2008) Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg (2007)).[4] Nếu chúng ta không có chiến lược NCKH đúng thì sẽ gặp bất lợi khi được phân loại theo xu hướng này.[5] Một khi thứ hạng của trường thấp sẽ kéo theo nhiều thiệt hại như sinh viên giỏi không thích đăng ký vào trường, người giỏi ngại về công tác, các trường đại học hoặc tổ chức uy tín hạn chế hợp tác và các chương trình tài trợ không dành ưu tiên cho trường.

Ngoài ra, khó có ĐTĐH tốt nếu trường không có NCKH tốt. Do đó, NCKH cần được đặt ngang tầm với hoạt động đào tạo.

1.2. Thực trạng NCKH tại Đại học Ngân hàng

Phần này trước hết điểm qua tồn tại trong NCKH tại trường, sau đó bàn về những nguyên nhân dẫn đến tồn tại này.

Các công trình NCKH hiện nay chủ yếu tổng hợp kiến thức đã có hơn là các phát hiện mới và hầu hết chưa sử dụng tốt các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng,[6] do đó các công trình này khó được công bố trên các tạp chí uy tín trên thế giới mà chỉ có thể đăng trong nước (Đại học Ngân hàng Tp. HCM, 2010). Như vậy, nếu áp dụng chuẩn xếp hạng đại học có tính đến thứ hạng các công trình khoa học thì chúng ta sẽ bị thiệt thòi. Chỉ cần so sánh với Đại học Tôn Đức Thắng cũng đã thấy nguy cơ này.[7] Trường này đã có chiến lược NCKH khá tốt, với kết quả là họ có năm bài báo khoa học (article) đăng trên tạp chí quốc tế và bảy bài tham luận (proceeding) được đưa vào kỷ yếu của hội thảo quốc tế (Đại học Tôn Đức Thắng, 2010).

Các công trình khoa học còn hạn chế như trên có thể vì ba bất cập trong chính sách NCKH của trường sau đây:

Trước tiên, trường chưa coi NCKH quan trọng như giảng dạy. Điều này có thể thấy rõ qua kế hoạch sinh hoạt khoa học không được xây dựng song song với lịch giảng đầu mỗi học kỳ.[8] Cách làm như vậy cũng gây bất lợi cho giảng viên, do khó có thể tham gia các sinh hoạt này mà không ảnh hưởng giờ giảng.

Ngoài ra, trường ít có hoạt động giao lưu khoa học, kể cả nội bộ (giữa các bộ môn, các khoa, viện, tạp chí và các trung tâm). Đặc biệt, trường có Trung tâm hợp tác quốc tế nhưng, về học thuật, nơi này chỉ hỗ trợ giảng viên một số khóa học ngắn hạn miễn phí hoặc tạo điều kiện cho một số người tham quan nước ngoài, chứ chưa có hoạt động giao lưu NCKH nào đáng kể.[9]

Cuối cùng, giảng viên chưa có đủ phương tiện tối thiểu để nghiên cứu. Cụ thể, chưa có phòng làm việc yên tĩnh thuận tiện cho nghiên cứu cũng như chưa có các phần mềm chuyên dụng, thiếu số liệu và các tạp chí khoa học quốc tế quan trọng để cập nhật những kết quả nghiên cứu mới trong ngành. [10] Ngoài ra, kỹ năng và khả năng nghiên cứu của từng người phần lớn do tự học, hơn là được hỗ trợ từ nhà trường.[11]

1.3. Giải pháp

Trường cần thực hiện những giải pháp sau:

- Nên đặt NCKH đúng tầm quan trọng của nó. Thể hiện trước hết ở lịch sinh hoạt khoa học đầu các học kỳ, bao gồm nhiều cấp độ từ sinh hoạt chuyên môn ở bộ môn (hoặc khoa) đến hội thảo khoa học cấp khoa, cấp trường và hội thảo quốc tế (nếu có). Lịch sinh hoạt này cần được ấn định cụ thể một số buổi nhất định trong tuần (hoặc trong tháng) và tránh trùng lắp giữa các khoa. Lịch này cũng tránh trùng với lịch giảng để những người có liên quan dễ dàng tham dự.[12] Kế đến, nên xem định mức nghiên cứu là tiêu chuẩn bắt buộc (để xét tiêu chuẩn được tiếp tục nghiên cứu hoặc giảng dạy tại trường) chứ không phải là tiêu chuẩn có thể đánh đổi bằng giờ giảng.

Ngoài ra, cần có chế độ khuyến khích liên quan tới nghiên cứu cụ thể và chi tiết hơn như (1) phân biệt chi tiết chất lượng công trình (hiện nay chúng ta đã có phân loại nhưng thiết nghĩ còn đơn giản)[13] đồng thời, (2) chính sách đãi ngộ phải đảm bảo người có thành quả nghiên cứu tốt không thiệt thòi về quyền lợi, ít nhất là thu nhập, so với người dạy nhiều.

- Bồi dưỡng thường xuyên kỹ năng và phương pháp nghiên cứu theo xu hướng hội nhập cho nghiên cứu viên và giảng viên, nhất là giảng viên mới.[14] Nội dung bồi dưỡng cần chú trọng ba vấn đề sau:

+ Phát hiện ý tưởng nghiên cứu: Ý tưởng ở đây phải mới và có giá trị khoa học hoặc thực tiễn. Hiện nay, trên thế giới, hầu như chủ đề nào cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, nên việc xác định ý tưởng nghiên cứu có mới hay không là rất khó. Do vậy, để xác định ý tưởng nghiên cứu phù hợp rất cần sự hướng dẫn và giúp đỡ của những người từng trải trong nghiên cứu và điều kiện tiên quyết là phải có đầy đủ cơ sở dữ liệu (tạp chí quan trọng trong và ngoài nước cũng như số liệu nghiên cứu). Về cơ sở dữ liệu cho nghiên cứu, có thể tham khảo cách làm của Đại học Kinh Tế Tp. HCM; bước đầu, trường này đã mua quyền truy cập Science Direct, Emerald, eBrary từ 15-9-2010 (Đại học Kinh tế Tp. HCM, 2010).

+ Chọn phương pháp nghiên cứu: Sau khi có ý tưởng, cần phải có phương pháp nghiên cứu phù hợp với ý tưởng đó. Trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng, muốn được các tạp chí khoa học có chất lượng[15] chấp nhận, các nghiên cứu phải ứng dụng tốt các công cụ thống kê, kinh tế lượng (cho nghiên cứu thực nghiệm) hoặc toán học (cho nghiên cứu lý thuyết).

+ Viết báo cáo nghiên cứu: Khi đã có kết quả nghiên cứu thì cách viết báo cáo cũng rất quan trọng. Trong đó, chỉ riêng cách trích dẫn không đúng cũng có thể gây ra các lỗi đạo văn đáng tiếc, như một số trường hợp xảy ra vừa qua (Nguyễn Văn Tuấn, 2010).

Đối với ba kỹ năng trên, nghiên cứu viên và giảng viên cần được đào tạo và trao đổi kinh nghiệm thường xuyên, chứ không phải tự phát như hiện nay.

- Nên có chính sách khuyến khích nghiên cứu viên và giảng viên tham gia các hội thảo uy tín, kể cả có đóng phí, trong và ngoài nước. Các hội thảo này thường bình duyệt bài viết rất kỹ trước khi chấp nhận. Vì vậy, nếu bài của ai được chấp nhận thì họ xứng đáng được thanh toán chi phí tham dự hội thảo.[16] Khi tham gia hội thảo quốc tế, họ có điều kiện học hỏi nhiều điều bổ ích và cũng là cơ hội làm cho nhiều người biết tới trường; đây là cầu nối quan trọng cho hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và đào tạo sau này.

- Nên tận dụng quan hệ hợp tác quốc tế để thúc đẩy NCKH của trường. Muốn vậy, nên ưu tiên liên kết với các trường mạnh về NCKH.[17] Ngoài ra, cần phải xác định, mục đích chính của hợp tác quốc tế không phải để cải thiện thu nhập mà là từng bước hội nhập về đào tạo và nghiên cứu. Vì vậy, nếu chúng ta không nâng nội lực NCKH và chủ động phối hợp NCKH với đối tác thì tính cạnh tranh trong hợp tác quốc tế sẽ kém. Hệ quả là các tổ chức tốt sẽ không ưu tiên lựa chọn chúng ta làm đối tác. Điều này không có lợi cho trường trong dài hạn.

- Nên có chỗ nghiên cứu cho giảng viên. Có thể dành vài phòng dùng chung cho mục đích nghiên cứu, với tiện ích tối thiểu (kệ sách, máy in, internet, một số bàn làm việc chung) trước khi tiến tới có phòng riêng cho giảng viên.[18] Ngoài ra, cần trang bị các phần mềm chuyên dùng cho nghiên cứu (như EndNote, SAS, Stata, Eviews, SPSS), đồng thời cần có nhân viên hỗ trợ nghiên cứu chuyên trách để sử dụng hiệu quả các công cụ và dữ liệu nghiên cứu. Những người này được đào tạo chuyên trách và họ cũng là người nhận chuyển giao kỹ thuật khi trường mua sắm các thiết bị, cơ sở dữ liệu và các phần mềm.[19] Còn nhớ, trường đã từng tiếp nhận phòng lab Reuters nhưng vì không có nhân viên hỗ trợ kỹ thuật chuyên trách nên phòng này không phát huy hết tác dụng của nó.

2. Đào tạo đại học

Phần này bàn về quan điểm, thực trạng và giải pháp đào tạo bậc đại học ở trường.

2.1. Quan điểm về ĐTĐH

Quan điểm ĐTĐH được thể hiện chủ yếu qua mục tiêu, chương trình, giáo trình, phương pháp đào tạo và cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo.[20]

ĐTĐH không phải trang bị kiến thức và kỹ năng như dạy nghề mà là đào tạo bản lĩnh cho người học. Bản lĩnh sinh viên tốt nghiệp thể hiện ở (1) hệ thống kiến thức cơ bản có tính bao quát đủ để họ làm việc trong thực tế, đồng thời (2) có khả năng tự thích nghi cũng như tự học để cập nhật và nâng cao kiến thức. Nếu quá chú trọng dạy những kiến thức ứng dụng ngay trong các đơn vị kinh tế thì giống với dạy nghề hơn rèn luyện bản lĩnh. Cách dạy này có thể chưa có vấn đề lúc sinh viên mới ra trường, nhưng về lâu dài họ sẽ bị bất lợi khi môi trường làm việc thay đổi, và như vậy rất dễ bị lạc hậu. Ngoài ra, tính đa dạng trong thực tiễn làm cho việc dạy nghề ở bậc đại học ít khả thi;[21] đồng thời, cách làm này cũng kém hiệu quả.[22] Nếu sinh viên được đào tạo bản lĩnh như trên thì sẽ không khó tự học những kiến thức nghiệp vụ cụ thể đó.

Vì vậy, chương trình đào tạo của trường không nên quá chú trọng dạy nghiệp vụ cụ thể trong thực tế.[23] Những nội dung này sinh viên phải tự tìm hiểu dưới dạng làm thuyết trình chuyên đề, tiểu luận, báo cáo thực tập hoặc khóa luận tốt nghiệp dưới sự hướng dẫn và đánh giá của giảng viên.

Tóm lại, mục tiêu ĐTĐH cần được quan niệm như đúc kết của Gs. Cao Huy Thuần: “Lý tưởng của giáo dục, nhất là giáo dục đại học, bất cứ ở đâu, và nhất là trong văn hóa cổ của ta, là đào tạo người học trò thành người trí thức chứ không phải chỉ thành chuyên viên(Cao Huy Thuần, 2009).

Chương trình đào tạo cần tinh gọn, liên thông và hội nhập. Tinh gọn nghĩa là tránh các nội dung lặp đi lặp lại không cần thiết trong các môn học, để không lãng phí thời gian của sinh viên và giảng viên, nhờ đó họ có thêm thời gian học và nghiên cứu kiến thức chuyên sâu. Tính liên thông của chương trình thể hiện ở (1) sự liên thông giữa các bậc học (cao đẳng, đại học và sau đại học) về chương trình và nội dung các môn học, và (2) trình tự các môn học trong từng bậc học.[24] Chương trình đào tạo cần thể hiện tính hội nhập vì xu hướng của nền kinh tế là hội nhập thì đào tạo cũng phải hội nhập, thậm chí đi trước một bước theo chủ trương đi tắt đón đầu của chính phủ.[25] Hơn nữa, chương trình có tính hội nhập giúp sinh viên khi ra trường sẽ thuận lợi nếu làm việc hoặc tiếp tục học tập trong môi trường có tính quốc tế hóa cao. Ngược lại, nếu cơ cấu môn học không phù hợp thông lệ chung thì sinh viên tốt nghiệp có thể bị từ chối tuyển dụng do không thể hiện kiến thức được đào tạo phù hợp yêu cầu của nhà tuyển dụng; hoặc bị hạn chế khả năng xin học các trường tốt do cơ cấu môn đã học không phù hợp với yêu cầu kiến thức đầu vào của các trường này.

Tài liệu giảng dạy phải mang tính hội nhập. Nên xác định mục đích môn học trong tổng thể chương trình, từ đó chọn giáo trình chuẩn dùng ở các trường có uy tín (đáp ứng yêu cầu cho chương trình nói trên). Hiện nay, không thể phủ nhận ưu điểm giáo dục đại học của Mỹ cho nên hầu hết các trường trên thế giới, khi xác định tài liệu giảng dạy, đều có xu hướng tham khảo giáo trình các trường đại học tốt của nước này. Đó là điều chúng ta nên cân nhắc.

Phương pháp giảng dạy khuyến khích sinh viên chủ động: nên kết hợp nhiều hoạt động đào tạo để khuyến khích tính chủ động học tập, giải quyết tình huống thực tiễn và NCKH của sinh viên, khuyến khích làm việc theo nhóm. Nhờ các phương pháp này sinh viên sẽ lĩnh hội kiến thức một cách hiệu quả mà giảng viên không cần tốn nhiều thời gian để thuyết giảng hết những nội dung của môn học. Nếu tinh gọn được chương trình đào tạo và tăng tính tự học của sinh viên thì số giờ giảng viên cần phải đứng lớp sẽ giảm. Đây là cơ sở để tăng đơn giá giờ giảng cũng như tạo ra thời gian để họ có thể NCKH. Cách làm này còn rèn luyện những kỹ năng tự học và hợp tác của học viên.

Mỗi môn học nên có giảng viên giảng chính và trợ giảng. Như vậy sẽ tận dụng được năng lực của giảng viên trình độ cao (giảng được nội dung quan trọng cho nhiều lớp mà không quá tải) và tạo điều kiện cho giảng viên trẻ tập sự với công việc giảng dạy và nghiên cứu từ những công việc phù hợp (như giảng một phần môn học, ôn tập, chấm bài và làm trợ lý nghiên cứu).

Cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng không kém giảng viên, nhất là nếu muốn đào tạo tính chủ động học tập cho học viên. Với điều kiện kinh phí có hạn, nên ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất cho giảng dạy hơn các hoạt động khác chưa thật sự cần thiết.[26]

2.2. Thực trạng ĐTĐH tại Đại học Ngân Hàng[27]

Phần này phân tích thực trạng ĐTĐH dựa trên khía cạnh đã đề cập trong phần quan điểm ĐTĐH, đồng thời nói về hạn chế của hoạt động hợp tác quốc tế trong việc hổ trợ công tác đào tại tại trường

Trước hết, mục tiêu đào tạo là (1) dạy nghề hay (2) dạy kiến thức căn bản, hiện đại và kỹ năng tự học hiện chưa thống nhất trong toàn trường.[28] Điều này dẫn đến xem nhẹ các môn cơ sở ngành và quá chú trọng các môn nghiệp vụ.[29]

Kế đến, chương trình hiện nay thừa môn học mà thiếu nội dung. Tổng số môn học cho mỗi sinh viên một khoa chuyên ngành hiện khoảng 40 tới 47 môn;[30] thế nhưng nội dung nhiều môn học còn rất khiêm tốn so với nội dung các giáo trình được nhiều trường trên thế giới áp dụng.[31] Ngoài ra, nội dung giữa các môn còn chồng chéo không cần thiết;[32] nhưng các môn học trong cùng một cấp học cũng như khác cấp học không thể hiện tính liên thông.[33]

Hơn nữa, tài liệu giảng dạy hiện chưa đủ, một số môn có tài liệu nhưng chưa đảm bảo yêu cầu xu hướng hội nhập.[34]

Bên cạnh đó, phương pháp giảng dạy còn chú trọng thuyết giảng hơn các hoạt động khuyến khích tính chủ động tự học của sinh viên.[35] Ngoài ra, chưa phân biệt nội dung khó (quan trọng) và nội dung dễ (ít quan trọng) để có sự phân công lao động hợp lý. Do vậy, giảng viên có trình độ cao và nhiều kinh nghiệm phải giảng cả những phần mà lẽ ra họ không cần giảng. Điều này làm cho giảng viên tập sự chủ yếu chỉ nghiên cứu; còn giảng viên thâm niên, do phải giảng nhiều, nên thời gian nghiên cứu bị hạn chế.

Ngoài ra, cơ sở vật chất, cụ thể như, thư viện, internet và cơ sở dữ liệu phục vụ học tập và nghiên cứu của sinh viên chưa được đặt đúng tầm quan trọng của nó (theo Báo Thanh Niên (2010)Báo Vietnamnet (2009)). Trong đó, đáng quan tâm là, trang Web của trường chưa được đầu tư và sử dụng hiệu quả cho giảng dạy và quản lý sinh viên.[36]

Cuối cùng, quan hệ hợp tác quốc tế chưa có vai trò gì đáng kể cho hoạt động giảng dạy ở trường, cũng như trong NCKH.[37]

2.3. Giải pháp

Trên cơ sở những vấn đề nói trên, thiết nghĩ trường nên chú ý các giải pháp sau:

- Mục tiêu ĐTĐH chú trọng dạy sinh viên kiến thức căn bản, hiện đại và kỹ năng tự học. Những vấn đề quá cụ thể tại các đơn vị kinh tế thì nên yêu cầu sinh viên tự tìm hiểu thông qua bài tập nhóm, tiểu luận, báo cáo thực tập và khóa luận tốt nghiệp. Tất nhiên, những hoạt động này phải có sự hướng dẫn và đánh giả kết quả từ giảng viên.

- Chương trình nên chú trọng dạy tốt kiến thức nền tảng để nhờ vào đó sinh viên có thể hiểu sâu kiến thức chuyên ngành và dễ dàng tiếp tục tự học cũng như học ở bậc cao hơn. Với các môn chuyên ngành, cần rèn luyện sinh viên kỹ năng ứng dụng kiến thức nền tảng vào chuyên môn cụ thể.[38] Nếu làm được điều này, giảng viên không cần dạy lại kiến thức cơ bản, nên không cần tốn nhiều thời gian để giảng lượng kiến thức chuyên ngành như hiện này. Điều này thể hiện sự tinh gọn, liên thông và hội nhập. Dựa trên xu hướng tự chủ của trường đại học, chương trình khung nên dựa vào chuẩn của một số trường đại học có uy tín (ưu tiên các trường được công nhận của Mỹ).[39]&[40]

Để làm tốt hai giải pháp trên, nên xem xét việc sắp xếp lại các khoa hiện có cho khoa học và phù hợp với thông lệ chung trên thế giới.

- Bước đầu có thể xin phép các nhà xuất bản để biên dịch các giáo trình phù hợp. Thiết nghĩ, tính khả thi của giải pháp này cao vì đã có nhiều sách nước ngoài được dịch và lưu hành tại Việt Nam. Đồng thời có nhiều tài liệu dạy tiếng Anh đã có sách “Chỉ được bán tại thị trường Việt Nam” (For sale in Vietnam only) với giá cả phù hợp. Về lâu dài, nên khuyến khích sinh viên và giảng viên dùng tài liệu gốc (thông qua hình thức sách “Chỉ được bán tại thị trường Việt Nam” nói trên). Ngoài ra, cũng khuyến khích sử dụng tài liệu do giảng viên tự biên soạn, nếu đạt chuẩn trường đề ra.[41]

- Cần khuyến khích tính chủ động của học viên và coi đây là yêu cầu bắt buộc đối với mọi giảng viên. Ngoài ra, cần phân biệt nội dung phức tạp hay đơn giản trong các môn học để phân công phù hợp năng lực giảng viên. Những đợt tập huấn “phương pháp giảng dạy đại học” hoặc “phương pháp nghiên cứu khoa học” không phải thỉ dành riêng cho giảng viên mới mà cũng rất cần cho giảng viên thâm niên để họ bổ sung và cập nhật kiến thức này.[42]

- Cần đầu tư và sử dụng hiệu quả hơn nữa hệ thống thư viện, internet và cơ sở vật chất khác cho đào tạo của trường. Đặc biệt, nên có kế hoạch dùng trang web trường nhiều hơn cho giảng dạy như phân phối tài liệu học tập, cho phép sinh viên đăng ký học, xin bảng điểm, liên lạc với giảng viên, và đánh giá giảng viên qua mạng, v.v. Tránh sử dụng các trang web miễn phí để giao dịch với sinh viên, do tính bảo mật của chúng không cao và không chính danh.[43] Hơn nữa, điều này có thể làm tổn hại hình ảnh Đại học Ngân hàng vốn có hẳn khoa công nghệ thông tin.

- Cần tận dụng hoạt động hợp tác quốc tế để xây dựng chương trình chung, chọn giáo trình và học tập đối tác cách thức giảng dạy, đánh giá học viên và quản lý sinh viên.

Mong rằng những vấn đề liên quan đến NCKH và ĐTĐH nói trên được cân nhắc trước khi xây dựng chiến lược phát triển của trường. Nhóm tác giả rất vui lòng tiếp tục trao đổi về những ý kiến trên.

Melbourne, ngày 16 tháng 11 năm 2010

Phạm Phú Quốc- Giảng viên Khoa Tín dụng

Nghiên cứu sinh về Ngân hàng, Đại học Monash
Building H, Room 4.12, 900 Dandenong Road, Caulfield East VIC 3145, Australia
+61 (0)3 9903 4211 - Phone, +61 (0)4 3051 4613 - Mobile

Email: PhuQuoc.Pham@monash.edu

Lê Tấn Luật- Giảng viên Khoa Giáo dục cơ bản

Nghiên cứu sinh về Thị trường chứng khoán, Đại học La Trobe

Building HU3, Room 1.20, La Trobe University, Melbourne, VIC 3086, Australia
+61 (0)3 9479 5312 - Phone, +61 (0)4 68 574 463- Mobile

Email: tl3le@students.latrobe.edu.au

Tài Liệu Tham Khảo

Báo Pháp luật Tp. HCM. (2010). Vụ giáo trình đại học thiếu nguồn trích dẫn: Có thiếu sót nhưng cần xét hoàn cảnh biên soạn. từ http://phapluattp.vn/20100507122555580p0c1019/co-thieu-sot-nhung-can-xet-hoan-canh-bien-soan.htm

Báo Thanh Niên. (2010). Thư viện chưa đáp ứng cho sinh viên. từ http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201043/20101019172317.aspx

Báo Tuổi Trẻ. (2008). Xếp hạng đại học Việt Nam: Liệu có khách quan, đáng tin cậy?. từ http://tuoitre.vn/Giao-duc/289054/Xep-hang-dai-hoc-Viet-Nam-Lieu-co-khach-quan-dang-tin-cay.html

Báo Vietnamnet. (2009). Cấm sinh viên sử dụng internet bằng...dán băng keo ổ điện. từ http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2009/04/841026/

Cao Huy Thuần. (2009). Hướng đi của đại học. Tuần Việt Nam, từ http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2009-10-21-huong-di-cua-dai-hoc

Đại học Kinh tế Tp. HCM. (2010). Thư viện Trường Đại học Kinh tế (Chuyên mục tin nổi bật). từ http://www.lib.ueh.edu.vn/?ArticleId=5da4e85f-22d8-445c-912c-6e007757f08d

Đại học Ngân hàng Tp. HCM. (2009). Quy chế về hoạt động nghiên cứu khoa học đối với giảng viên và Cán bộ công chức Trường Đại học Ngân hàng Tp.HCM. từ http://buh.edu.vn/Upload/633958055415312563.pdf

Đại học Ngân hàng Tp. HCM. (2010). Danh sách các đề tài NCKH. từ http://www.buh.edu.vn/content.aspx?Id=VNCKHVCNNH&SubId=CCTNCKH&ArticleID=418

Đại học Tôn Đức Thắng. (2010). Các bài báo công bố quốc tế. từ http://www.tdt.edu.vn/lang-vi/component/content/section/12

Nguyễn Thị Cành. (2009). Một số ý kiến nhằm nâng cao chấtt lượng đào tạo tiến sĩ tại Việt Nam nhìn từ thựcc trạng chất lượng đào tạo tiến sĩ các chuyên ngành kinh tế hiện nay. Bài trình bày tại Hội thảo "Nâng cao chất lượng đào tạo tiến sỹ của ĐH Quốc gia Tp. HCM".

Nguyen Thi Canh, & Nguyen Thanh Cuong. (2010). The determinants of financial structure for Vietnam’s seafood processing enterprises. Paper presented at the FMA.

Nguyễn Văn Tuấn. (2009). Một vài ngộ nhận về nghiên cứu khoa học. Tia Sáng, từ http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=78&CategoryID=32&News=2804

Nguyễn Văn Tuấn. (2010). Đạo văn và tác giả ma trong học thuật: vấn đề hệ thống. từ http://nguyenvantuan.net/science/4-science/1122-dao-van-va-tac-gia-ma-trong-hoc-thuat-van-de-he-thong

Thủ tướng Chính phủ. (2007). Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020 Retrieved từ http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30340&cn_id=67242.

Văn Như Cương. (2009). Nghiên cứu- “hoạt động” từ bà nội trợ đến người thầy. Tuần Việt Nam, từ http://www.diendantoanhoc.net/vmf/index.php?option=com_ccboard&view=postlist&forum=25&topic=135&Itemid=474

Vũ Quốc Phóng. (2008). Hệ tín chỉ: “Viết lại một quyển niên giám” Việt Báo, từ http://vietbao.vn/Giao-duc/He-tin-chi-Viet-lai-mot-quyen-nien-giam/20771409/202/



[1] Nhóm tác giả nhận được góp ý từ Đào Mai, ĐH Ngân hàng; Hạ Thị Thiều Dao, ĐH Ngân hàng; Trần Thị Bình An, ĐH Ngân hàng; Võ Văn Lai, ĐH Tôn Đức Thắng (NCS Luisiana State University, Mỹ); Nguyễn Thị Kim, ĐH Hoa Sen (NCS University of Western Sydney, Úc); Nguyễn Quang Trung, ĐH Mở Tp.HCM (NCS Monash University, Úc); Trần Thanh Long, ĐHQG Hà Nội (NCS Monash University, Úc); Đỗ Quang Hưng, Học viện Hành chính (NCS La Trobe University, Úc); Đặng Hùng Vũ, ĐH An Giang (NCS Victoria University of Wellington, NZ) và một số sinh viên ĐH Ngân hàng. Trân trọng cảm ơn những đóng góp quý báu đó. Những hạn chế trong bài viết thuộc trách nhiệm tác giả.

[2] NCKH ở cấp nhập môn này vẫn rất cần sự hướng dẫn của người có kinh nghiệm để tránh các sai lầm về phương pháp NCKH, nhất là tránh đạo văn, thói quen xấu làm hại nhà nghiên cứu sau này.

[3] Nguyen Thi Canh và Nguyen Thanh Cuong (2010) là ví dụ cho nghiên cứu theo dạng này tại Đại học Quốc gia Tp.HCM.

[4] Danh sách các tạp chí quốc tế được xếp hạng, tham khảo tại http://www.journal-ranking.com/ranking/web/index.html

[5] Phát triển hệ thống đại học theo hướng hội nhập là một trong những nội dung chiến lược của Bộ Giáo dục và Đào tạo thể hiện qua Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006 – 2020 (Thủ tướng Chính phủ, 2007). Trong đó, hệ thống đại học sẽ được phân làm ba cấp: (1) Các trường đại học được xếp hạng trong nhóm 200 trường hàng đầu thế giới; (2) Các trường đại học đào tạo định hướng nghiên cứu; (3) Các trường đại học, cao đẳng đào tạo định hướng nghề nghiệp - ứng dụng. Dự thảo chiến lược phát triển Đại học Ngân hàng phải thể hiện rõ mục tiêu của trường là lọt vào nhóm nào trong phân loại nói trên. Bài viết này giả định trường nỗ lực để chí ít được xếp vào nhóm 2.

[6] Nhiều công trình hiện được coi là định tính thực chất chưa dùng đúng các phương pháp nghiên cứu định tính. Ngoài ra, phần lớn các luận án (Phó) Tiến sỹ cũng có vấn đề về phương pháp nghiên cứu (theo Nguyễn Thị Cành (2009)).

[7] Còn nhiều nội dung khác được dùng để đánh giá trường đại học, bài viết chỉ so sánh riêng khía cạnh NCKH.

[8] Theo “Quy chế NCKH đối với GV-CB Trường ĐH Ngân hàng Tp.HCM”, hàng năm kế hoạch NCKH phải được các đơn vị trong toàn trường đăng ký, nhưng lịch sinh hoạt khoa học thì không thấy đề cập (Đại học Ngân hàng Tp. HCM, 2009).

[9] Có thể thấy rõ điều này qua các hoạt động chính được xác định trên trang web của trung tâm này, tại: http://www.bu.edu.vn/Trung_Tam_Hop_Tac_Quoc_Te_DH_Ngan_Hang_TpHCM/Vn_AboutUs_Trung_Tam_Hop_Tac_Quoc_Te_DH_Ngan_Hang_TpHCM.aspx

[10] Thư viện Đại học Ngân hàng đã có một số tạp chí nước ngoài, nhưng chủ yếu là các tại liệu miễn phí, nên chưa có đủ các tạp chí quan trọng trong ngành.

[11] Trường đã có tập huấn NCKH cho giảng viên mới nhưng số lượng các đợt tập huấn này còn quá ít và báo cáo viên không thuộc các lĩnh vực chuyên môn của trường nên hiệu quả còn thấp.

[12] Có nghịch lý rằng, giảng viên trường thường xuyên bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho nhân viên ngân hàng nhưng bản thân họ hầu như không được trường thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật kiến thức.

[13] Ví dụ, hiện nay một bài đăng tạp chí quốc tế được tính 500 tiết nhưng chưa phân biệt chất lượng (ranking) của tạp chí đó. Xem “Quy chế NCKH đối với GV-CB Trường ĐH Ngân hàng Tp.HCM” (Đại học Ngân hàng Tp. HCM, 2009).

[14] Đại học Kinh Tế Tp. HCM vừa qua đã tổ chức nhiều đợt tập huấn nội dung này, xem http://ueh.edu.vn/?ArticleId=576ca00c-0404-462e-840c-a82c69785e9f

[15] Xem ghi chú số 4.

[16] Quy chế hoạt động nghiên cứu khoa học hiện nay chưa đề cập đến lệ phí đăng ký bài ở hội thảo quốc tế và công tác phí khi tham dự các hội thảo này (Đại học Ngân hàng Tp. HCM, 2009).

[17] Các đối tác hiện nay của trường chưa phải là các đại học có thế mạnh về nghiên cứu:

- Đại Học Bolton (Bolton University) nằm ở cuối bảng xếp hạng các đại học của Vương Quốc Anh, xem http://www.thecompleteuniversityguide.co.uk/single.htm?ipg=8726.

- Đại Học Khoa Học Ứng Dụng Tây Bắc-Thuỵ Sỹ ( University of Applied Sciences Northwestern Switzerland (FHNW, Fachhochschule Nordwestschweiz)) được xếp loại đại học định hướng nghề nghiệp - ứng dụng, xem http://www.kfh.ch/uploads/doku/doku/Studying_in_Switzerland_2010.pdf?CFID=17549942&CFTOKEN=69855350, vì vậy không nằm trong các bảng xếp hạng dành cho các trường đại học nghiên cứu của Thuỵ Sỹ, xem http://www.universityrankings.ch/en/results/overview_list .

[18] Trường có chiến lược xây dựng thư viện hiện đại và ký túc xá hiện đại nhưng chưa thấy có chiến lược xây dựng phòng làm việc và nghiên cứu cho giảng viên.

[19] Vấn đề này có thể học tập kinh nghiệm từ Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright.

[20] Vấn đề nhân sự liên quan tới NCKH và ĐTĐH được trình bài rải rác trong tham luận này; Vấn đề tuyển, sử dụng và đãi ngộ sẽ được trình bày riêng trong tham luận khác.

[21] Theo Gs. Vũ Quốc Phóng: “...nhu cầu của các doanh nghiệp về lao động rất đa dạng và thay đổi liên tục, cho nên nếu các doanh nghiệp muốn sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể hòa nhập ngay vào môi trường kinh doanh của họ thì chỉ có cách là họ tự mở trường đại học của công ty họ.(Vũ Quốc Phóng, 2008).

[22] Những kỹ năng và kiến thức ứng dụng này có thể được trang bị thông qua các chương trình cao đẳng, trung cấp hoặc các chương trình ngắn hạn của của các trung tâm đào tạo chứ không cần chương trình đại học.

[23] Để ý rằng, các tài liệu có tính chuyên môn cao của CFA, CPA, RM và PM cũng chú trọng tính nguyên lý chung trong ngành, chứ không gắn với dạy nghề cho các trường hợp cụ thể. Ngay cả tài liệu của Standard & Poor’s hoặc Moody’s cũng trình bày nguyên lý chung, dù đây là các đơn vị kinh tế có tính nghiệp vụ cao.

[24] Ở cơ chế tín chỉ, sự liên thông này thể hiện ở điều kiện tốt nghiệp (chương trình khung) và điều kiện tiên quyết của từng môn học.

[25] Trường từng có những môn học có tính đón đầu. Ví dụ, năm 1992, trường Đại học Ngân hàng là một trong những nơi đầu tiên dạy môn Thị trường chứng khoán và môn Nghiệp vụ ngân hàng thương mại và đã chứng tỏ những kiến thức trong các môn học này hết sức hữu ích cho sinh viên sau này.

[26] Ví dụ chi phí xây mới cổng trường tại Thủ Đức cao hơn nhiều lần so với chi phí cho trang web; trong khi để phục vụ đào tạo, lẽ ra trang web phải được ưu tiên hơn. Còn nếu cho rằng cổng trường là bộ mặt của trường thì không chuẩn xác. Do người ta chủ yếu tìm hiểu trường qua nội dung trang web chứ hiếm ai nhìn vào cái cổng để hiểu về trường.

[27] Để có thể đánh giá đúng thực trạng một số nội dung trong phần này, trường nên có một cuộc khảo sát chính thức. Bài viết này nói về thực trạng dựa trên những thông tin và kinh nghiệm mà bản thân các tác giả có được.

[28] Qua trao đổi với các đồng nghiệp tại trường. Xem thêm ghi chú số 521 về tầm quan trọng của việc này.

[29] Muốn làm nghiên cứu hay nâng cao nghiệp vụ đều phải giỏi thống kê, kinh kế lượng và lý thuyết nền tảng ở các môn cơ sở ngành nhưng các môn này hiện chưa được chú trọng đúng mức. Khoa Kế Toán-Kiểm Toán còn loại môn Kinh tế lượng ra khỏi chương trình trong khi môn Nguyên lý thống kê không trang bị được kiến thức thống kê căn bản cho chuyên ngành Kế toán-Kiểm toán (Xem thêm ghi chú 34.).

[30] Theo bảng điểm của sinh viên và chương trình đào tạo ở các khoa tại www.buh.edu.vn.

[31] Xem ví dụ trong ghi chú 34.

[32] Một vài ví dụ điển hình: Môn Tài chính doanh nghiệp và môn Tài trợ dự án trùng phần thẩm định tài chính, trong khi lẽ ra môn Tài chính doanh nghiệp dạy chính và môn Tài trợ dự án chỉ cần bổ sung một số khái niệm và kỹ thuật thẩm định, rồi ứng dụng những kiến thức này. Môn tín dụng ngân hàng và môn Tín dụng quốc tế cùng dạy các nguyên lý tín dụng. Kế toán doanh nghiệp có phần liên quan khấu hao tài sản, Kế toán ngân hàng cũng dạy phần này. Thị trường tài chính và Kinh doanh ngoại hối trùng lắp phần cách tính tỷ giá chéo.

[33] Kiến thức các môn cơ sở như Toán cao cấp, Nguyên lý thống kê, Kinh tế học, Kinh tế lượng,.v.v. hầu như không được áp dụng cho các môn nghiệp vụ. Chương trình các cấp học hầu như ít liên thông.

[34] Ví dụ tài liệu môn Tín dụng ngân hàng hiện nay chỉ tập trung hoạt động tín dụng truyền thống, thiếu mảng quản trị danh mục tín dụng và sử dụng các phái sinh để quản lý rủi ro, chưa đề cập đầy đủ các kỹ thuật thẩm định theo xu hướng hiện đại, và thậm chí chưa có các quy định quản lý rủi ro tín dụng theo Basel. Tài liệu môn Thẩm định giá phù hợp với chương trình đào tạo tại một ngân hàng hơn chương trình đại học. Môn lý thuyết thống kê có nội dung giống môn Thống kê kinh tế (thời bao cấp).

[35] Dựa trên quan sát của người viết và phỏng vấn sinh viên học ở trường.

[36] Chỉ riêng email cũng thấy sự bất cập vì không thể phục vụ giảng dạy. Email chính thức của giảng viên có dung lượng quá nhỏ, chỉ nhận và lưu giữ được tối đa khoảng 100 email!

[37] Xem ghi chú số 9.

[38] Ví dụ, các kiến thức tài chính doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, kinh tế học,v.v. được ứng dụng vào các môn tín dụng và thẩm định dự án.

[39] Các trường được công nhận, xem ở http://www.ope.ed.gov/accreditation/

[40] Các trường này đã hoạt động và khẳng định mình trong một thời gian dài, nên kết cấu các môn học đã được sàng lọc nhiều, vì thế có thể tin cậy. Quan điểm cho rằng kết cấu như vậy không phù hợp với Việt Nam không đứng vững trước ba lý do. Thứ nhất, những chương trình nói trên thích hợp để đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam trong xu hướng hội nhập; nếu không, Việt Nam sẽ bất lợi vì hành xử không giống ai trên trường quốc tế. Thứ hai, nếu cho rằng không phù hợp với Việt Nam thì kết cấu chương trình được xây dựng phải khác với chương trình đào tạo ở các trường vừa nêu chứ không thể chỉ giống duy nhất ở những phần dễ dạy nhất. Cuối cùng, chính phủ và bản thân trường cử người đi học ở các nước phát triển hóa ra không cần thiết, vì như vậy sẽ học những điều không phù hợp Việt Nam?

Còn nếu chưa áp dụng được chương trình như trên, vì nhiều giảng viên chưa giảng được, thì phải giải quyết vấn đề khác, liên quan đến khâu tuyển chọn và bồi dưỡng giảng viên. Chúng ta chọn kết cấu môn học là vì chất lượng đào tạo, hay nói cách khác là vì sinh viên, chứ không phải vì sự thuận tiện cho giảng viên.

[41] Không phải giáo trình tự soạn nào cũng phù hợp. Có tài liệu chỉ cóp nhặt đơn giản từ một hoặc vài tài liệu khác, nên có thể bị sai lệch so với ý tưởng của tác giả gốc, vì thế nếu dùng giảng dạy có thể gây nguy hại cho kiến thức của sinh viên (theo Báo Pháp luật Tp. HCM (2010)).

[42] Xem thêm ghi chú 6.

[43] Hiện tại Phòng Đào tạo có một blog giao dịch với sinh viên trên My Opera: http://my.opera.com/phongdaotao/archive/