Danh sách Blog của Tôi

Thứ Hai, 30 tháng 8, 2010

Đặt Quốc hội vào chuyện đã rồi?

Có thông tin Tổng công ty Đường sắt Việt Nam "sẽ chủ động phối hợp với đối tác Nhật Bản để lập dự án đầu tư xây dựng hai đoạn tuyến đường sắt Hà Nội - Vinh, Tp.HCM - Nha Trang (thuộc dự án đường sắt cao tốc Hà Nội – Tp.HCM), và dự án đường sắt Ngọc Hồi - Nội Bài" và "các dự án trên có thể sẽ bắt đầu được nghiên cứu khả thi vào tháng 11/2010 và kết thúc vào quý 1/2012". Điều này hiện gây bất ngờ cho nhiều đại biểu Quốc hội.


Được biết Văn phòng chính Phủ cũng có công văn về vấn đề này.


Theo Khoản 1, Điều 5 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/2/2009 của Chính phủ về Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình thì "Đối với các dự án quan trọng quốc gia, chủ đầu tư phải lập Báo cáo đầu tư xây dựng công trình trình Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư" trước khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi.


Các dự án đường sắt nói trên hẳn là các dự án quan trọng quốc gia (xem Nghị Quyết số 49/2010/QH12).


Vậy, không biết trong trường hợp này, Chính phủ và Tổng công ty Đường sắt Việt Nam có định qua mặt và đặt Quốc hội vào chuyện đã rồi?

Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2010

Vinashin, đảo nợ và phát biểu của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Theo quy chế cho vay hiện hành (khoản 2, điều 9) thì cho vay đảo nợ được thực hiện theo văn bản khác của Ngân hàng Nhà nước. Nhưng cho đến nay, chưa có văn bản nào quy định loại cho vay này. Vì vậy, có thể nói chưa có cơ sở pháp lý cho việc cho vay đảo nợ.

Hơn nữa, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng khẳng định: “cho vay doanh nghiệp tại một ngân hàng để trả nợ cho chính ngân hàng đó hoặc trả nợ cho một ngân hàng khác, được coi là hành vi đảo nợ” và “ Luật pháp nghiêm cấm triệt để hành vi đảo nợ trong bất luận trường hợp nào. Bởi vì, một nền kinh tế chấp nhận cho vay đảo nợ, tức là chấp nhận cách làm ăn không mang lại hiệu quả, đồng thời gây thất thoát tài sản, chưa kể gây rối ren trong công tác quản lý”.

Tuy nhiên, với Vinashin, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cho biết “bằng các nguồn tài chính thích hợp cho Vinashin vay để trả nợ nước ngoài đến hạn, cơ cấu lại nợ tín dụng”.

Vậy, trong trường hợp Vinashin nói trên, Chính phủ có phạm luật hoặc có mâu thuẫn với phát biểu của người đứng đầu tổ chức chuyên ban hành các quy định trong hoạt động tín dụng?

Thứ Tư, 25 tháng 8, 2010

Ý kiến về các quy định cho thuê tài chính hiện hành

(Bài đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 19 (10/2010))


Bài viết nhằm góp ý cho Nghị định 16/2001/NĐ-CP, Nghị định 65/2005/NĐ-CP (sửa đồi bổ sung Nghị định 16) và Thông tư 06/2005/TT-NHNN về ba vấn đề: (1) các điều kiện xác định một giao dịch cho thuê tài chính, (2) tên gọi công ty cho thuê và (3) xử lý chấm dứt hợp đồng trước hạn.

Thứ nhất, các điều kiện xác định một giao dịch cho thuê tài chính theo Nghị định 65 vừa không giống với với thông lệ quốc tế đã được Việt Nam chấp nhận vừa không chuẩn xác về ý nghĩa kinh tế.

Theo Điều 1, Nghị định 65, "Một giao dịch cho thuê tài chính phải thoả mãn một trong những điều kiện sau đây:

a) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên;

b) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại;

c) Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê;

d) Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng".

Trong khi đó, 4 điều kiện đầu, tại Mục 10 của Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế số 17 (International Accounting Standards 17- IAS 17) đã được Việt Nam vận dụng, thể hiện trong Mục 09, Chuẩn mực kế toán số 6 (ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC) như sau:

“a) Bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi hết thời hạn thuê;

b) Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, bên thuê có quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê với mức giá ư ớc tính thấp hơn giá trị hợp lý vào cuối thời hạn thuê.

c) Thời hạn thuê tài sản chiếm phần lớn thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cho dù không có sự chuyển giao quyền sở hữu;

d) Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu chiếm phần lớn giá trị hợp lý của tài sản thuê;”

Thoạt nhìn có vẻ các điều kiện trong hai văn bản trên giống nhau. Tuy nhiên, nếu để ý sẽ thấy các điều kiện a), c) và d) của Nghị định 65 khác với các điều khoản tương ứng của Chuẩn mực kế toán số 6.

Đành rằng, Nghị định của Chính phủ có giá trị pháp lý cao hơn và có thể khác, thậm chí phủ định Chuẩn mực kế toán số 6 (theo Quyết định của Bộ tài chính) nhưng trong trường hợp này có mấy chỗ cần trao đổi:

- Dù có sự khác biệt, nhưng Nghị định 65 (kể cả Nghị định 16 cũng như Thông tư 06) không xác định rõ có phủ định Chuẩn mực kế toán số 6 hay không. Điều này, trong một số trường hợp, có thể gây ra sự đánh đố cho các doanh nghiệp nếu họ muốn hoàn toàn tuân thủ pháp luật; bởi người đi thuê lẫn công ty cho thuê phải hạch toán theo chuẩn mực kế toán, đồng thời họ lại phải tuân thủ các văn bản trên.

- Các điều kiện xác định một giao dịch cho thuê tài chính của Nghị định 65 không nên khác với Chuẩn mực kế toán số 6. Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và cũng đang chấp nhận nhiều chuẩn mực kế toán quốc tế để xây dựng chuẩn mực kế toán cho mình. Chúng ta chỉ không chấp nhận các tiêu chuẩn này khi nào chúng hoàn toàn không phù hợp với nền kinh tế Việt Nam và chúng ta có tiêu chuẩn khác tốt hơn. Trong trường hợp này, không thấy có lý do như thế để ủng hộ cho sự khác biệt. Thậm chí, còn có một số điều không ổn trong các điều kiện này ở Nghị định 65:

+ Quy định “hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên” ở điều kiện a) là dư và không chính xác.

Nguyên tắc cơ bản để phân biệt một giao dịch cho thuê là thuê tài chính hay thuê vận hành nằm ở chổ phần lớn các lợi ích và rủi ro liên quan tới tài sản thuộc về bên nào; nếu thuộc về bên đi thuê thì đó là cho thê tài chính, còn nếu là bên cho thuê thì đó là cho thuê vận hành. Ngoài ra, việc phân biệt này phải được thực hiện ngay lúc bắt đầu giao dịch để căn cứ vào đó các bên liên quan sẽ tuân thủ các quy định kế toán dành riêng cho mỗi loại cho thuê.[1]

Như vậy, nếu ngay ban đầu hợp đồng thuê có thỏa thuận việc thuê tiếp và thời hạn thuê ban đầu đủ dài để chứng tỏ lợi ích và rủi ro liên quan đến tài sản thuộc về người thuê thì hẳn trường hợp này thuộc điều kiện c).

Còn nếu như hợp đồng cho thuê có việc thỏa thuận thuê tiếp nhưng thời gian thuê ban đầu không đủ dài để chứng tỏ lợi ích và rủi ro liên quan đến tài sản thuộc về người thuê thì có hai khả năng có thể xảy ra:

(i) Thời gian thỏa thuận thuê tiếp cũng ngắn, làm cho tổng thời gian thuê chưa đủ dài để người đi thuê gắn với lợi ích và rủi ro liên quan tới tài sản: Trong trường hợp này, e rằng khó thuyết phục khi cho đó là cho thuê tài chính.

(ii) Thời hạn cho thuê tiếp dài đủ để cộng với thời hạn thuê ban đầu làm cho người đi thuê gắn lợi ích và rủi ro liên quan tới tài sản và nếu thỏa thuận thuê tiếp này là một cam kết phải thực hiện thì hoàn toàn có thể gộp nó với thời hạn thuê ban đầu để trở thành thời hạn thuê chung và như vậy sẽ rơi vào điều kiện c); còn nếu thỏa thuận này là một quyền chọn, có nghĩa là có thể thực hiện hoặc không thực hiện thì việc có thuê tiếp hay không sau này mới rõ. Thế thì làm sao có thể dùng nó để xác định một giao dịch cho thuê là thuê tài chính hay không, khi mà việc xác định này cần thực hiện ngay từ đầu giao dịch để các bên liên quan lựa chọn tuân thủ các quy định về kế toán và thuế, thậm chí các quy định khác của Nghị định 65.

Tóm lại, điều kiện a) trong Nghị định 65 nên quy định giống như Chuẩn mực kế toán số 6, có nghĩa là bỏ cụm từ “hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên”.

+ Sử dụng “thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê” để xác định giao dịch cho thuê tài chính là không phù hợp, mà phải là “thời gian sử dụng kinh tế của tài sản”.[2]

Thời gian sử dụng kinh tế của tài sản là khoảng thới gian bắt đầu lúc tài sản được đưa vào sử dụng và kết thúc khi chi phí vận hành nó lớn hơn lợi ích của nó mang lại. Thời gian sử dụng kinh tế của tài sản có thể ước tính dựa trên các thông số kỹ thuật của nó. Thời gian cần thiết để khấu hao tài sản phụ thuộc vào thời gian sử dụng kinh tế của tài sản, chính sách quản trị tài chính của doanh nghiệp và các quy định của nhà nước.

Ví dụ một tài sản, theo thông số kỹ thuật ước tính có thời gian sử dụng kinh tế là 20 năm và theo quy định của Bộ Tài chính tài sản này không được khấu hao quá 10%/năm. Trong tình huống này, doanh nghiệp có thể lựa chọn để khấu hao tài sản trong phạm vị từ 10 tới 20 năm. Như vậy, nếu dùng thời gian cần thiết để khấu hao tài sản làm tiêu chuẩn so sánh thì phải dùng con số nào trong khoản thời gian 10 tới 20 năm. Nếu nói rằng chọn thời gian doanh muốn nghiệp khấu hao tài sản này để so sánh thì cũng không ổn do doanh nghiệp có thể thay đổi thời gian mình muốn khấu hao để cho giao dịch cho thuê được coi là cho thuê tài chính hay không. Lúc này, việc phân biệt cho thuê tài chính với thuê vận hành lại phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người đi thuê chứ không phải phụ thuộc vào việc họ có gắn với lợi ích rủi ro liên quan tới tài sản hay không.

Trở lại ví dụ vừa nêu, giả sử tài sản được thuê với thời hạn là 6 năm. Nếu người đi thuê không muốn giao dịch cho thuê là thuê tài chính thì họ có thể nói thời gian họ khấu hao tài sản trên 10 năm để làm cho thời hạn thuê nhỏ hơn 60% thời hạn khấu hao. Còn nếu muốn coi đây là giao dịch cho thê tài chính thì người đi thuê có thể khai rằng thời gian khấu hao tài sản là 10 năm, để cho thời hạn hợp đồng cho thuê thỏa đúng bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản. Thế nhưng cần thấy rằng, khoảng thời gian thuê 6 năm chiếm chưa tới 1/3 thời gian sử dụng kinh tế của tài sản vì vậy chưa thể nói rủi ro và lợi ích của nó thuộc về người đi thuê.

Ngoài ra, bên nào khấu hao tài sản để từ đó xác định thời gian khấu hao tài sản phụ thuộc vào loại cho thuê: Đối với cho thuê tài chính thì người đi thuê khấu hao tài sản nên họ quyết định thời gian khấu hao; còn đối với cho thuê vận hành, người cho thuê khấu hao tài sản và quyết định thời gian này. Nhưng muốn biết giao dịch cho thuê thuộc loại cho thuê nào lại cần phải có thời gian cần thiết để khấu hao tài sản. Vấn đề này giống một cái vòng lẫn quẩn.

+ Điều kiện d) của Nghị định 65 có hai điểm chưa chuẩn:

Tiền thuê được thanh toán ở những năm khác nhau, nên cho dù cùng số tiền danh nghĩa, vẫn có giá trị khác nhau. Vì thế phép cộng đơn giản như vậy sẽ không có ý nghĩa kinh tế. Do đó, sử dụng “hiện giá các khoản tiền thuê” (như trong Chuẩn mực kế toán số 6) thay cho “tổng số tiền thuê” sẽ chuẩn hơn.

Ngoài ra, trong điều kiện này, nếu xác định là “hợp đồng cho thuê tài chính” rồi thì giao dịch hẳn phải thỏa một trong ba điều kiện a), b) hoặc c) ở trên, vậy có cần thiết điều kiện thứ tư này nữa không? Có lẽ, ở đây, đúng ra phải là “hợp đồng cho thuê” chứ không phải “hợp đồng cho thuê tài chính”.

Thứ hai, tên các công ty thực hiện hoạt động cho thuê được các văn bản nói trên gọi là “công ty cho thuê tài chính” là chưa chuẩn xác.

Trước hết, hoạt động cho thuê, theo quy định hiện hành, không chỉ gồm cho thuê tài chính (financial lease) mà còn cả cho thê vận hành (operating lease). Cho nên, tên gọi là “công ty cho thuê tài chính” sẽ phản ánh phiến diện nội dung hoạt động của các công ty này.

Ngoài ra, hiện có tới 11 trong số 13 công ty cho thuê hoạt động ở Việt Nam có tên tiếng Anh là “leasing company”.[3] Cách gọi “leasing” cho hoạt động cho thuê nói chung (gồm cả cho thuê tài chính và cho thuê vận hành) giống với cách gọi của nhiều công ty trên thế giới.[4] Thế nhưng, nghĩa tiếng Việt của “leasing company” không phải là “công ty cho thuê tài chính”, mà là “công ty cho thuê”; “financial leasing company” mới có nghĩa là “công ty cho thuê tài chính”.

Do vậy, thay vì gọi các công ty nói trên là “công ty cho thê tài chính” thì nên đổi tên thành “công ty cho thuê” để vừa đúng với nội dung hoạt động của chúng, đồng thời cũng phù hợp với tên gọi phổ biến của các công ty này trên thế giới.

Thứ ba, quy định xử lý chấm dứt hợp đồng trước hạn của ba văn bản trên còn mấy điểm cần bàn:

Trước hết, toàn bộ các văn bản trên chỉ quy định xử lý chấm dứt hợp đồng trước thời hạn đối với cho thê tài chính nhưng không đề cập đến trường hợp cho thuê vận hành. Vậy, khi rủi ro này phát sinh thì các công ty cho thuê có thể áp dụng các quy định của cho thuê tài chính không?

Ngoài ra, quy định việc thanh toán số tiền còn thiếu theo hợp đồng như hiện nay là không thỏa đáng đối với người đi thuê. Lý do là số tiền còn thiếu theo hợp đồng sẽ được thanh toán dần dần cho đến cuối thời hạn thuê. Nếu chấm dứt hợp đồng trước hạn mà phải trả ngay hết số tiền thuê thì e không hợp lý vì đã không tính đến yếu tố giá trị tiền tệ theo thời gian. Biết rằng, bên cho thê cần phải được hưởng lãi trong việc cho thuê nhưng việc hưởng lãi (theo hợp đồng) phải diễn ra cho đến hết thời gian thuê. Nếu thu hồi hết tiền thanh toán theo hợp đồng sớm thì người đi thuê vừa có lợi vì không cần chờ đến chấm dứt hợp đồng mà lại có thể lấy tiền này tái đầu tư và tiếp tục hưởng lãi. Đứng về phía người đi thuê đây là một áp lực rất lớn và không công bằng với họ.

Người đi thuê có lỗi để dẫn đến chấm dứt hợp đồng trước hạn thì phải chịu phạt để bồi thường thiệt hại cho người cho thuê là điều tất yếu, nhưng nếu quy định như hiện nay để trừng phạt họ thì chưa hợp lý. Ở đây cần tính đến yếu tố giá trị tiền tệ theo thời gian và thiệt hại của người đi thuê để phạt người đi thuê có thể sẽ phù hợp hơn.

Tóm lại, các điều kiện phân biệt giao dịch cho thê tài chính của Nghị định 65 cần phải được sửa đổi cho phù hợp hơn. Tên gọi của các công ty thực hiện hoạt động cho thuê nên gọi là “công ty cho thuê” thì chuẩn hơn “công ty cho thê tài chính”. Ngoài ra, nên cân nhắc yếu tố giá trị tiền tệ theo thời gian trong việc quy định việc thanh toán nợ còn thiếu khi hợp đồng cho thuê chấm dứt trước hạn.



[1] Chi tiến hơn, xem Chuẩn mực kế toán số 6.



[2] Thuật ngữ tài sản trong trường hợp này ám chỉ tài sản cố định.



[3] Website Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: http://www.sbv.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c5/hY2xDoIwGISfyPQKLcWxIJQfDQhGRRbSwRgSAQfj81uNLibq3Xj57mMtcx3trT_Zaz-N9swa1gYdFmKuUilQal-CyijfFmtCKbnbD0EXG50JtQJMXsUgk29CEXEA6g-9f_h-88-HL9F47W8DqqVwBuFTnex4SN7HP-CloJDXvE5llBjJimwajuwyNOhppu-8k7Y6/dl3/d3/L2dJQSEvUUt3QS9ZQnZ3LzZfMEQ0OTdGNTQwT0EzNTBJT0JKVU5QSTBPMzI!/



[4] Ví dụ như tên các công ty cho thuê ở Châu Âu, xem: http://www.leaseurope.org/uploads/pr121009.pdf


Thứ Bảy, 21 tháng 8, 2010

“Không quan tâm chính trị”!

Các môn lý luận chính trị đã được dạy trong các trường đại học từ lâu và vừa qua Bộ GD&ĐT tiếp tục có quy định về việc giảng dạy các môn học này. Thế nhưng, nhiều người dù đã học qua cao đẳng hoặc đại học vẫn không ngần ngại thừa nhận mình không quan tâm tới... chính trị (có thể thấy trong mục Political Views trên FB hoặc qua giao tiếp). Điều lạ là chưa thấy người ta nói không quan tâm tới những vấn đề khác như văn hóa, giáo dục, lịch sử, nghệ thuật, thể thao….

Không quan tâm điều gì là quyền cá nhân, nhưng nếu nhiều người cùng có điểm chung nói trên thì có lẽ cũng đáng để suy ngẫm.

Chính trị, bản thân nó không xấu và “con người theo bản năng tự nhiên đã có tính chính trị”; xấu tốt là do cách thức và mục đích người ta sử dụng nó.

Ở tầm quốc gia, nếu dân chúng không quan tâm tới chính trị thì làm sao họ có thể lựa chọn được đúng đắn người đại diện để quản lý đất nước. Vậy công tác bầu cử há chẳng mất ý nghĩa và những người đại diện cho dân làm sao đảm bảo là xứng đáng? Ngoài ra, tình trạng này làm khó khăn cho việc qui tụ trí lực toàn dân cho những vấn đề sống còn của đất nước. Cuối cùng, xã hội như vậy sẽ rất khó thật sự đồng thuận.

Ở giác độ cá nhân, người không quan tâm tới chính trị khó có thể làm tốt trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Trước hết, bầu cử là nghĩa vụ của công dân. Kế đến, để xã hội tốt đẹp hơn, mỗi công dân cần đóng góp ý kiến của mình cho những điều hệ trọng của đất nước. Người không quan tâm tới chính trị hẳn khó làm tốt bổn phận vừa nêu.

Mong rằng tình trạng trên không phổ biến; nếu không, hy vọng rằng vì đã có người lo thay mọi việc nên người dân chẳng ai màng tới chính trị nữa làm gì!

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2010

Lại một số khái niệm... không chuẩn

(Sau khi tôi viết bài viết dưới đây thì tác giả bài viết, chị Diệp Thủy đã phản hồi và nói sẽ chính sửa những chỗ chưa chính xác, nhưng chỉ chỉnh sửa sai sót dưới cùng.)

Có một số khái niệm không chuẩn trong bài "
Tìm vốn cho doanh nghiệp":

+ "Bên cạnh đó, còn có những nguồn vốn khác như vốn trả chậm, vốn vay liên doanh liên kết. Và điều quan trọng là dù muốn gia tăng vốn theo cách thức nào, điều đầu tiên là doanh nghiệp phải xây dựng cho mình chiến lược hợp lý. Chỉ khi xác định được mình cần nguồn vốn nào (vốn ngắn hạn, dài hạn hay vốn lưu động), sử dụng vốn ra sao, doanh nghiệp mới có thể đưa ra cách tiếp cận vốn hiệu quả."

Trong phát biểu trên, nếu ai rành kế toán và tài chính làm ơn giải thích "vốn vay liên doanh liên kết" là gì? "vốn ngắn hạn, dài hạn hay vốn lưu động" là sao? Hơn nữa, vốn lưu động đâu phải là nguồn vốn?

+ "Chiến lược tài chính kết hợp: Đây là chiến lược kết hợp sử dụng cả vốn vay lẫn vốn tự có. Chiến lược này, theo ông Dương, Đại học Ngân hàng TP.HCM, là “phù hợp với doanh nghiệp Việt Nam”. Vấn đề là doanh nghiệp sẽ xem xét khi nào cần đi vay và khi nào nên sử dụng vốn tự có". Đây hẳn là điều hiển nhiên, đâu có gì để nói “phù hợp với doanh nghiệp Việt Nam”?

+ "chi phí tài sản cố định (máy móc, nguyên vật liệu…)": Hóa ra nguyên vật liệu thuộc tài sản cố định???!!!

Thứ Hai, 16 tháng 8, 2010

Hội nhập giáo dục

Muốn nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam, thiết nghĩ nên làm mấy việc sau:


- Về kết cấu môn học, các đại học ở Việt Nam nên chọn kết cấu các môn học của các trường lớn, lâu đời ở các nước phát triển mà xây dựng kết cấu môn học cho mình. Các trường lớn đã kinh qua thời gian dài đào tạo nên kết cấu các môn học đã được sàng lọc nhiều vì vậy có thể tin cậy. Có người cho rằng kết cấu như vậy là không phù hợp với Việt Nam e là ngụy biện vì ba lý do. Thứ nhất, Việt Nam đang hội nhập quốc tế cho nên những gì được dạy các ở các trường nói trên thích hợp để đào tạo nguồn nhân lực cho xu hướng này; Nếu không, Việt Nam sẽ bất lợi vì hành xử không giống ai trên trường quốc tế. Thứ hai, nếu cho rằng không phù hợp với Việt Nam thì kết cấu chương trình được xây dựng phải khác với các nước phát triển chứ không thể chỉ giống duy nhất ở những phần dễ dạy nhất của chương trình đào tạo các trường vừa nêu. Cuối cùng, các quan chức và thậm chí nhiều người làm công tác giáo dục, khi có điều kiện thì cho con cháu đi du học ở các nước phát triển, thế hóa ra bỏ tiền ra để học những điều không phù hợp Việt Nam? Hay quá rõ chất lượng công việc của mình nên muốn con cháu mình đi "tị nạn giáo dục"?!!!


Có người cho rằng, nhiều giảng viên không giảng được chương trình như trên. Chuyện này là vấn đề khác; Làm sao để giảng viên có đủ năng lực cần thiết liên quan tới khâu tuyển chọn và bồi dưỡng giảng viên của trường. Chúng ta chọn kết cấu môn học là vì chất lương đào tạo hay nói cách khác là vì sinh viên chứ không phải vì những giảng viên kém năng lực.


- Trong khi chưa viết được giáo trình đúng tiêu chuẩn quốc tế thì nên chọn giáo trình được nhiều đại học trên thế giới sử dụng để dạy. Phần nhiều giáo trình tự soạn hiện nay ở Việt Nam thực chất chỉ là những cắt xén làm sai lệch ý tưởng của tác giả các sách gốc vì vậy rất nguy hại đến nhận thức của sinh viên. Hơn nữa, cách soạn giáo trình này có thể làm cho giảng viên lười biếng vì được quyền chọn giảng những phần mình thích hoặc dễ dạy mà bỏ qua các chương khác khó dạy nhưng cần thiết cho sinh viên.


Nhiều giảng viên đang sử dụng hàng hiệu của các nước phát triển từ laptop, điện thoại, quần áo, giày dép đến các vật dụng hàng ngày khác một cách thoải mái, không hề phàn nàn không phù hợp với Việt Nam thì chắc khó thuyết phục nếu cho là những đề xuất trên là... chưa phù hợp....


Thứ Bảy, 14 tháng 8, 2010

Ý kiến chuyên gia

Nhà báo thường dùng ý kiến chuyên gia để tăng tính thuyết phục của bài viết hoặc qua đó giải thích những vấn đề có tính chuyên môn cao mà bản thân họ không tự giải quyết được. Tuy nhiên, khi sử dụng ý kiến chuyên gia cần lưu:

- Chuyên gia thường có chuyên môn hẹp. Họ thường chỉ chuyên vào một hoặc một số rất ít lĩnh vực nhất định. Trong một thế giới mà tính chuyên môn hóa trong từng lĩnh vực rất cao như hiện nay, một người khó có thể cập nhật kiến thức, thông tin hay nghiên cứu sâu cùng một lúc nhiều lĩnh vực. Vì vậy, nếu một chuyên gia có thể tư vấn dàn trải cho nhiều lĩnh vực, thì có lẽ là điều không bình thường. Do đó, nhà báo muốn bài viết thực sự có giá trị, cung cấp thông tin chính xác và bổ ích cho người đọc, thì trước khi hỏi ý kiến chuyên gia, nên tìm hiểu lĩnh vực nghiên cứu của người mình định hỏi.

- Chuyên gia có thể phát biểu thiên lệch vì mục đích riêng của họ. Có chuyên gia vì địa vị hiện tại hoặc nhắm đến địa mới cao hơn nên lúc nào cũng ủng hộ tất cả các chính sách công, mặc dù sau đó thực tế cho thấy hầu hết những phát biểu của họ là thiên lệch. Do đó, khi phân tích chính sách của chính phủ, để khách quan, nên chăng nhà báo tránh tham khảo ý kiến của những quan chức có địa vị cao hoặc có triển vọng thăng tiến; thay vào đó, nên tham khảo ý kiến của các nhà khoa học ít liên quan tới chức quyền.

- Báo chí nên nghiêm túc và chính xác trong việc giới thiệu chức danh và chuyên môn của chuyên gia. Có nhiều chuyên gia được gán cho những chức danh và chuyên môn rất ấn tượng nhưng những phát biểu thì làm thất vọng người đọc. Vô tình, cách làm này hạ thấp uy tín một số người thực sự có chức danh và chuyên môn đó. Hơn nữa, cũng cần xác định rõ đây là ý kiến cá nhân hay đại diện tổ chức mà chuyên gia gắn tên nó để tránh việc làm mất danh dự và uy tính của nhiều người có liên quan vì họ không hề đồng ý với ý kiến của người phát biểu.

Về phần mình, hơn ai hết, các chuyên gia nên trung thực, tự trọng và có trách nhiệm với những phát biểu của mình. Tránh tình trạng vì muốn PR tên tuổi mà phát ngôn vô tội vạ. Có thể ban đầu cách làm này có lợi cho bản thân các vị nhưng sự thật rồi sẽ được phơi bày, những phát biểu ẩu tả, thiếu trung thực và vô trách nhiệm thì không thể rút lại được và rất có thể sẽ là những case study cho nhiều thế hệ mai sau.

Thứ Năm, 12 tháng 8, 2010

Phản hồi bài “Xem lại doanh nghiệp trước khi vay vốn”

(Đăng trên TBKTSG: http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/bandocviet/39222/)


Trong bài viết trên có hai vấn đề lớn cần được trao đổi thêm:

Thứ nhất, chiến lược kết hợp tài sản tự có với tài chính năng động (là những khoản vay dài hạn) được doanh nghiệp các nước sử dụng nhiều, và tùy vào ngân hàng tiếp cận dễ hay khó để xác lập các khoản vay” là chiến lược gì lạ quá? Quan trọng hơn, có mấy điểm không rõ trong phát biểu này:

- “Tài sản tự có” là gì?

Trong hệ thống kế toán hiện nay không thấy khái niệm “tài sản tự có”. Nếu xem khái niệm “tự có” tương đồng với khái niệm “chủ sở hữu” như trong trường hợp “vốn tự có” và “vốn chủ sở hữu” thì có khả năng đây chính là khái niệm tài sản của chủ sở hữu. Tuy nhiên, tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ nợ lẫn vốn chủ sở hữu và khi doanh nghiệp chi tiền hình thành chúng có khi nào họ phân biệt tiền của ai không? Giả sử, ban đầu doanh nghiệp được thành lập và hoạt động hoàn toàn bằng vốn chủ sở hữu. Lúc đó toàn bộ tài sản của doanh nghiệp chính là của chủ sở hữu. Thế nhưng, trường hợp này không phải phổ biến. Hơn nữa, trước sau gì doanh nghiệp cũng vay nợ thêm để mở rộng kinh doanh. Thế thì, sau một hay vài chu kỳ hoạt động, tiền thu vào chi ra sẽ hòa quyện và sinh ra các loại tài sản khác nhau. Như vậy, làm sao doanh nghiệp phân biệt được tài sản nào là tự có hay không phải tự có?

- “Tài chính năng động” là gì? Tại sao nó lại liên quan đến các khoản vay dài hạn?

Không biết “tài chính năng động” có phải là nguồn tài chính cho phép doanh nghiệp sử dụng một cách chủ động và linh hoạt không? Nếu đúng vậy thì chúng phải liên quan đến các khoản vay ngắn hạn (cho vay theo hạn mức tín dụng) chứ không phải các khoản vay dài hạn (cho vay kỳ hạn).

Cho theo hạn mức tín dụng là hình thức cho vay trong đó khách hàng được ngân hàng cho phép duy trì một mức dư nợ cao nhất trong một thời hạn thỏa thuận. Dư nợ cao nhất này được gọi là hạn mức tín dụng. Doanh nghiệp có thể rút tiền khi nào mình có nhu cầu miễn sao tổng dư nợ không được cao hơn hạn mức tín dụng. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp có thể được phép vay dưới hình thức tín dụng hạn mức tuần hoàn (revolving loan); theo đó, nếu doanh nghiệp trả nợ thì phần hạn mức còn được phép sử dụng sẽ tự động tăng lên bằng chính số nợ vừa trả. Cho vay theo hạn mức tín dụng, đặc biệt là cho vay tuần hoàn, giúp doanh nghiệp năng động trong quá trình sử dụng tiền vay vì chỉ khi nào cần tiền mới rút tiền vay để sử dụng; đặc biệt, đối với vay tuần hoàn, việc trả nợ có thể cải thiện hạn mức tín dụng giúp doanh nghiệp có thể tái sử dụng sau đó. Đặc điểm vừa nêu cho thấy loại cho vay này cho phép doanh nghiệp linh hoạt trong việc sử dụng nguồn vốn vay. Cho vay theo hạn mức tín dụng là cho vay ngắn hạn; đối với cho vay tuần hoàn cao nhất thường chỉ 3 năm (trung hạn).

Cho vay kỳ hạn (term loan- ở Việt Nam còn gọi là cho vay trung và dài hạn) là hình thức cho vay trong đó ban đầu khách hàng nhận một món tiền theo hợp đồng và trong thời gian vay, tiền vay được hoàn trả dần theo thỏa thuận đến hết khi chấm dứt hợp đồng. Trong trường hợp này, việc giải ngân và trả nợ diễn ra một cách cứng nhắc như đã định trước và như vậy, chẳng biết nó liên quan như thế nào tới khái niệm “tài chính năng động”.

Còn nếu hiểu “tài chính năng động” theo nghĩa là các nguồn vốn dài hạn cho phép danh nghiệp sử dụng lâu dài, vì vậy nó liên quan tới các khoản nợ dài hạn, thì e cũng không ổn. Nợ dài hạn được sử dụng thay cho nợ ngắn hạn để tài trợ cho các nhu cầu tài sản dài hạn có thể giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro thanh khoản khi nợ đến hạn, không liên quan gì tới tính năng động cả.

Khả năng khác, “tài chính năng động” muốn ám chỉ việc dùng nguồn vốn dài hạn (như nợ vay dài hạn) để tài trợ cho tài sản dài hạn có thể giúp doanh nghiệp an tâm với rủi ro thanh khoản mà sử dụng tài sản linh hoạt thì e không thích hợp trong hoàn cảnh đang nói tới doanh nghiệp vừa và nhỏ, đang rất khát vốn, chứ đừng nói chi đến lựa chọn chiến lược quản lý vốn theo cách này; vì nó được coi là thích hợp cho các doanh nghiệp lớn dễ vay mượn.

Thứ hai, có lẽ lời khuyên “…trước khi nghĩ đến vay vốn ngân hàng, các doanh nghiệp cũng nên tìm hiểu các kênh huy động vốn khác như phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp…” đã nhầm đối tượng vì nó không phù hợp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

- Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể phát hành cổ phiếu.

Về vốn, doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Muốn phát hành cổ phiếu, doanh nghiệp phải là công ty cổ phần. Hiện nay, có bao nhiêu % doanh nghiệp vừa và nhỏ là công ty cổ phần? Trong số 147.316 doanh nghiệp ngoài nhà nước (năm 2007) chỉ có 15% là công ty cổ phần; trong số đó, có tới 76% có vốn dưới 10 tỷ đồng. Trong khi đó, Luật chứng khoán (Điều 12) quy định muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng thì doanh nghiệp phải có vốn điều lệ ít nhất là 10 tỷ đồng. Như vậy, xem ra, cổ phiếu không phải là một lựa chọn dễ dàng đối với hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

- Doanh nghiệp vừa và nhỏ nghĩ tới việc phát hành trái phiếu trước rồi mới vay ngân hàng hay nên làm ngược lại?

Nếu doanh nghiệp không vay được từ ngân hàng thì e khó có thể phát hành trái phiếu. Trước hết, ngân hàng được coi là có ưu thế thông tin về khách hàng so với các chủ nợ khác. Nhờ cho vay và cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính cho khách hàng, ngân hàng chẳng những có các thông tin tài chính hoặc thông tin khác được công bố (thông tin cứng-hard information) mà còn có cả các thông tin khác không chính thức của khách hàng nhờ có mối quan hệ trước đó (thông tin mềm- soft information). Vì lẽ đó mà ngân hàng có lợi thế hơn khi cho vay các doanh nghiệp mình đã quan hệ (relationship lending). Điều này không có được đối với các chủ nợ khác chỉ sử dụng thông tin cứng để cho vay (transaction lending). Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, do tính chất thông tin cứng của họ không đầy đủ và có chất lượng không cao như các doanh nghiệp lớn cho nên lợi thế về thông tin mềm của các ngân hàng trong cho vay càng tăng gấp bội. Ngoài ra, ngân hàng còn có thể hạn chế rủi ro trong cho vay bằng cách sử dụng đảm bảo tín dụng như thế chấp hay cầm cố, hoặc thường xuyên giám sát quá trình tuân thủ hợp đồng vay của doanh nghiệp; trong khi đó, những vấn đề này khó có thể thực hiện được đối với những chủ nợ trái phiếu. Do vậy, nếu muốn dễ phát hành trái phiếu, trước hết doanh nghiệp phải chứng tỏ mình đủ tư cách tín dụng để vay ngân hàng. Hay nói cách khác, vay được ngân hàng giúp doanh nghiệp phát ra một tín hiệu tốt (signalling) giúp chủ nợ khác cải thiện lòng tin của họ đối những thôn tin cứng vốn không đầy đủ và kém chất lượng.

Tóm lại, ngân hàng và doanh nghiệp vừa và nhỏ nên gặp nhau để tạo tiền đề cho cách hình thức huy động vốn khác có lẽ là giải pháp thuyết phục hơn là làm ngược lai. Vì chưa giải quyết được vấn đề này, có thể là nguyên nhân trong thời gian qua doanh nghiệp khó phát hành trái phiếu.

Thứ Ba, 10 tháng 8, 2010

Đâu là vùng cấm?

Sau khi đọc mấy bài mình viết có người khuyên không nên viết về chính trị. Rất cám ơn những lời khuyên như thế. Nhưng làm sao xác định được đâu là vùng cấm khi mà suy cho cùng hầu như cái gì cũng có thể liên quan tới luật pháp, nhà nước và như vậy cũng liên quan tới chính trị.

"Sống làm việc theo hiến pháp và pháp luật". Nếu viết những gì không phạm luật liệu còn phải né vùng cấm nào không?

Thứ Hai, 9 tháng 8, 2010

Who cares?

Thấy cái gì hay của người thì nghĩ tới BU; Mail tài liệu thường xuyên cho đồng nghiệp; Luôn ý kiến cải tiến chuyên môn và được sếp phó hứa hẹn "chúng tôi sẽ xem xét"...

Nghe nói có một hội thảo khoa học để đổi mới các môn học..., nhưng đó chỉ là tin đồn. Và hình như tài liệu không ai đọc. Tự hỏi, ai cần mình và mình nên cần ai?

Trộm nghĩ, những người có vẻ đạo cao đức dày và có chức năng đó chắc ngại gì đó nên không quy tụ thêm ý kiến đóng góp?

Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2010

Hai trường hợp cùng một bài học?

Năm 2009, Báo điện tử Đảng CSVN có bài “Đi lên bằng chính đôi chân mình” nói về anh Nguyễn Thanh Nghị, Phó hiệu trưởng ĐH Kiến Trúc TpHCM, không dựa dẫm vào “phụ huynh”, là một lãnh đạo cao cấp, để có được chức vụ cao này. Bài báo cũng cho biết, vì anh Nghị đã rất khiêm tốn khi khai lý lịch bản thân nên trường phải khó khăn lắm mới biết được anh là con ai, chỉ vào thời điểm anh được đứng vào hàng ngũ đảng. Bài báo kết luận: “…những tấm gương như Nguyễn Thanh Nghị thật đáng quý biết bao”.

Mới đây, báo chí loan tin ông Nông Quốc Tuấn được bổ nhiệm làm Bí Thư tỉnh ủy tỉnh Bắc Giang. Vào Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia), được biết ông Tuấn cũng là con của một lãnh đạo cao cấp, nhưng tìm thì không thấy báo trong nước nói về điều này. Nếu thông tin Wikipedia đúng thì có lẽ đây cũng là một tấm gương như anh Nghị, vì vậy báo chí chưa biết nên không đưa tin?

Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2010

Báo chí “lề phải” đi “lề trái”?

Qua trả lời phỏng vấn ông Vũ Minh Giang được biết các bloggers đang "có một chiến dịch chửi bới nền giáo dục Việt Nam" và … "đánh tiếp Đại học Quốc gia Hà Nội". Muốn biết các blogger nói đúng hay sai có lẽ phải lấy "hệ quy chiếu" tư tưởng từ “cơ quan ngôn luận của đảng và nhà nước” làm "kim chỉ nam ". Dạo một vòng các cơ quan này thấy một số bài đáng chú ý sau:

Liên quan tới nền giáo dục Việt Nam:

- Giáo dục và khoa học trước thử thách hội nhập

- Giáo sư Hoàng Tụy: Giáo dục không thể đổi mới vụn vặt

- Khủng hoảng Giáo Dục Đại Học Việt Nam

- Giáo dục Việt Nam: Nguyên nhân sự xuống cấp và cải cách cần thiết

Liên quan tới Đại học Quốc gia Hà Nội:

- ĐHQG Hà Nội liên kết với trường ngoại 'dỏm'?

- Coi chừng bằng quốc tế "dỏm"

- Giải mã sự thật về Irvine University

Chẳng lẽ các "cơ quan ngôn luận của đảng và nhà nước” đăng các bài nói trên cũng nằm trong chiến dịch chống phá ngành giáo dục Việt Nam và Đại học Quốc gia Hà Nội? Nếu quả thật như vậy thì nguy lắm thay!

Thứ Năm, 5 tháng 8, 2010

Khó hiểu

Thông báoVề tình hình hoạt động và chủ trương, giải pháp để ổn định, phát triển Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam” của Chính phủ có đoạn sau:

Thống nhất tư tưởng, làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, tạo sự đồng thuận về chủ trương, mục tiêu yêu cầu, nhiệm vụ giải pháp của Chính phủ, bảo đảm thực hiện có kết quả việc củng cố, ổn định và phát triển Tập đoàn Vinashin, ngành công nghiệp đóng tàu và vận tải biển của đất nước. Không để từ việc yếu kém, sai phạm ở Tập đoàn Vinashin mà phủ nhận thành tựu to lớn, toàn diện đạt được của đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước trong các năm qua; phủ nhận vai trò của kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước; làm giảm lòng tin đối với Đảng, Nhà nước.

Đọc đoạn này, nhớ tới phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, thấy lấn cấn: Thế nào là “thống nhất tư tưởng” hay “đồng thuận về chủ trương”? Có phải đã là chủ trương thì phải triệt để chấp hành, miễn bàn, hay vẫn được phép phản biện để làm cho các giải pháp hiệu quả hơn? Nói cách khác, nếu thấy “chủ trương, mục tiêu yêu cầu, nhiệm vụ giải pháp của Chính phủ” chưa tối ưu mà phản biện thì có bị coi là không “thống nhất tư tưởng” hay “không đồng thuận về chủ trương”? Nếu tất cả các câu trả lời đều không mâu thuẩn với phương châm trên thì cần gì phải yêu cầu?...

Ngoài ra, thông báo có nhất thiết phải nhắc nhở “Không để từ việc yếu kém, sai phạm ở Tập đoàn Vinashin mà phủ nhận thành tựu to lớn, toàn diện đạt được của đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước trong các năm qua; phủ nhận vai trò của kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước; làm giảm lòng tin đối với Đảng, Nhà nước.”? Thiết nghĩ, đấy là lẽ đương nhiên; không ai có thể quy nạp bản chất của một sự vật, hiện tượng bằng một trường hợp cá biệt được!

Việc ưu ái Vinashin thời gian qua vốn đã khó hiểu nên phải chăng khi xử lý nó cũng cần khó hiểu cho có thủy có chung?

Thứ Tư, 4 tháng 8, 2010

Khủng hoảng cán bộ?

Đọc báo thấy lo quá, chẳng lẽ Việt Nam đang khủng hoảng cán bộ nghiêm trọng đến nỗi phát hiện họ gian lận bằng cấp mà vẫn không dám xử lý vì sợ thiếu người?

Người dân làm sao tin được những "đầy tớ" này trung thực khi họ chẳng những đã gian dối mà còn không bị xử lý nghiêm khắc?

Cách hành xử này thật ra là vì sợ không có người phục vụ dân hay chỉ là cách bênh vực nhau?

Cơ quan nào cũng có phòng tổ chức vậy mà trình độ và quá trình học tập của cán bộ, là những cái không khó kiểm tra so với việc xét lý lịch công chức hay lý lịch vào đảng, mà vẫn bị lọt lưới thì xem ra việc ngăn chặn âm mưu “diễn biến hoà bình” có lẽ đáng lo nhất chính là từ bản thân cán bộ chứ không hẳn chỉ từ "các thế lực thù địch".

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2010

Rút kinh nghiệm kịp thời?

Năm 2009, Costa Rica xếp chỉ số hành tinh hạnh phúc (HPI) của Việt Nam hàng thứ thứ 5 thế giới báo chí "lề phải" không hề phản biện đúng sai dù có ý kiến cho rằng chỉ số này được hiểu sai và có những dẫn chứng rằng nhiều nước kém phát triển vẫn có thể được xếp hạng cao.

Có lẽ rút kinh nghiệm nên... vừa rồi, khi Fitch hạ mức tín nhiệm của Việt Nam thì có nhiều chuyên gia và báo chí "lề phải" cho rằng điều đó... không chính xác, bất chấp Fitch được "bọn tư bản thối nát" đánh giá tổ chức này thế nào.