Danh sách Blog của Tôi

Thứ Năm, 12 tháng 8, 2010

Phản hồi bài “Xem lại doanh nghiệp trước khi vay vốn”

(Đăng trên TBKTSG: http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/bandocviet/39222/)


Trong bài viết trên có hai vấn đề lớn cần được trao đổi thêm:

Thứ nhất, chiến lược kết hợp tài sản tự có với tài chính năng động (là những khoản vay dài hạn) được doanh nghiệp các nước sử dụng nhiều, và tùy vào ngân hàng tiếp cận dễ hay khó để xác lập các khoản vay” là chiến lược gì lạ quá? Quan trọng hơn, có mấy điểm không rõ trong phát biểu này:

- “Tài sản tự có” là gì?

Trong hệ thống kế toán hiện nay không thấy khái niệm “tài sản tự có”. Nếu xem khái niệm “tự có” tương đồng với khái niệm “chủ sở hữu” như trong trường hợp “vốn tự có” và “vốn chủ sở hữu” thì có khả năng đây chính là khái niệm tài sản của chủ sở hữu. Tuy nhiên, tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ nợ lẫn vốn chủ sở hữu và khi doanh nghiệp chi tiền hình thành chúng có khi nào họ phân biệt tiền của ai không? Giả sử, ban đầu doanh nghiệp được thành lập và hoạt động hoàn toàn bằng vốn chủ sở hữu. Lúc đó toàn bộ tài sản của doanh nghiệp chính là của chủ sở hữu. Thế nhưng, trường hợp này không phải phổ biến. Hơn nữa, trước sau gì doanh nghiệp cũng vay nợ thêm để mở rộng kinh doanh. Thế thì, sau một hay vài chu kỳ hoạt động, tiền thu vào chi ra sẽ hòa quyện và sinh ra các loại tài sản khác nhau. Như vậy, làm sao doanh nghiệp phân biệt được tài sản nào là tự có hay không phải tự có?

- “Tài chính năng động” là gì? Tại sao nó lại liên quan đến các khoản vay dài hạn?

Không biết “tài chính năng động” có phải là nguồn tài chính cho phép doanh nghiệp sử dụng một cách chủ động và linh hoạt không? Nếu đúng vậy thì chúng phải liên quan đến các khoản vay ngắn hạn (cho vay theo hạn mức tín dụng) chứ không phải các khoản vay dài hạn (cho vay kỳ hạn).

Cho theo hạn mức tín dụng là hình thức cho vay trong đó khách hàng được ngân hàng cho phép duy trì một mức dư nợ cao nhất trong một thời hạn thỏa thuận. Dư nợ cao nhất này được gọi là hạn mức tín dụng. Doanh nghiệp có thể rút tiền khi nào mình có nhu cầu miễn sao tổng dư nợ không được cao hơn hạn mức tín dụng. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp có thể được phép vay dưới hình thức tín dụng hạn mức tuần hoàn (revolving loan); theo đó, nếu doanh nghiệp trả nợ thì phần hạn mức còn được phép sử dụng sẽ tự động tăng lên bằng chính số nợ vừa trả. Cho vay theo hạn mức tín dụng, đặc biệt là cho vay tuần hoàn, giúp doanh nghiệp năng động trong quá trình sử dụng tiền vay vì chỉ khi nào cần tiền mới rút tiền vay để sử dụng; đặc biệt, đối với vay tuần hoàn, việc trả nợ có thể cải thiện hạn mức tín dụng giúp doanh nghiệp có thể tái sử dụng sau đó. Đặc điểm vừa nêu cho thấy loại cho vay này cho phép doanh nghiệp linh hoạt trong việc sử dụng nguồn vốn vay. Cho vay theo hạn mức tín dụng là cho vay ngắn hạn; đối với cho vay tuần hoàn cao nhất thường chỉ 3 năm (trung hạn).

Cho vay kỳ hạn (term loan- ở Việt Nam còn gọi là cho vay trung và dài hạn) là hình thức cho vay trong đó ban đầu khách hàng nhận một món tiền theo hợp đồng và trong thời gian vay, tiền vay được hoàn trả dần theo thỏa thuận đến hết khi chấm dứt hợp đồng. Trong trường hợp này, việc giải ngân và trả nợ diễn ra một cách cứng nhắc như đã định trước và như vậy, chẳng biết nó liên quan như thế nào tới khái niệm “tài chính năng động”.

Còn nếu hiểu “tài chính năng động” theo nghĩa là các nguồn vốn dài hạn cho phép danh nghiệp sử dụng lâu dài, vì vậy nó liên quan tới các khoản nợ dài hạn, thì e cũng không ổn. Nợ dài hạn được sử dụng thay cho nợ ngắn hạn để tài trợ cho các nhu cầu tài sản dài hạn có thể giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro thanh khoản khi nợ đến hạn, không liên quan gì tới tính năng động cả.

Khả năng khác, “tài chính năng động” muốn ám chỉ việc dùng nguồn vốn dài hạn (như nợ vay dài hạn) để tài trợ cho tài sản dài hạn có thể giúp doanh nghiệp an tâm với rủi ro thanh khoản mà sử dụng tài sản linh hoạt thì e không thích hợp trong hoàn cảnh đang nói tới doanh nghiệp vừa và nhỏ, đang rất khát vốn, chứ đừng nói chi đến lựa chọn chiến lược quản lý vốn theo cách này; vì nó được coi là thích hợp cho các doanh nghiệp lớn dễ vay mượn.

Thứ hai, có lẽ lời khuyên “…trước khi nghĩ đến vay vốn ngân hàng, các doanh nghiệp cũng nên tìm hiểu các kênh huy động vốn khác như phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp…” đã nhầm đối tượng vì nó không phù hợp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

- Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể phát hành cổ phiếu.

Về vốn, doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Muốn phát hành cổ phiếu, doanh nghiệp phải là công ty cổ phần. Hiện nay, có bao nhiêu % doanh nghiệp vừa và nhỏ là công ty cổ phần? Trong số 147.316 doanh nghiệp ngoài nhà nước (năm 2007) chỉ có 15% là công ty cổ phần; trong số đó, có tới 76% có vốn dưới 10 tỷ đồng. Trong khi đó, Luật chứng khoán (Điều 12) quy định muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng thì doanh nghiệp phải có vốn điều lệ ít nhất là 10 tỷ đồng. Như vậy, xem ra, cổ phiếu không phải là một lựa chọn dễ dàng đối với hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

- Doanh nghiệp vừa và nhỏ nghĩ tới việc phát hành trái phiếu trước rồi mới vay ngân hàng hay nên làm ngược lại?

Nếu doanh nghiệp không vay được từ ngân hàng thì e khó có thể phát hành trái phiếu. Trước hết, ngân hàng được coi là có ưu thế thông tin về khách hàng so với các chủ nợ khác. Nhờ cho vay và cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính cho khách hàng, ngân hàng chẳng những có các thông tin tài chính hoặc thông tin khác được công bố (thông tin cứng-hard information) mà còn có cả các thông tin khác không chính thức của khách hàng nhờ có mối quan hệ trước đó (thông tin mềm- soft information). Vì lẽ đó mà ngân hàng có lợi thế hơn khi cho vay các doanh nghiệp mình đã quan hệ (relationship lending). Điều này không có được đối với các chủ nợ khác chỉ sử dụng thông tin cứng để cho vay (transaction lending). Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, do tính chất thông tin cứng của họ không đầy đủ và có chất lượng không cao như các doanh nghiệp lớn cho nên lợi thế về thông tin mềm của các ngân hàng trong cho vay càng tăng gấp bội. Ngoài ra, ngân hàng còn có thể hạn chế rủi ro trong cho vay bằng cách sử dụng đảm bảo tín dụng như thế chấp hay cầm cố, hoặc thường xuyên giám sát quá trình tuân thủ hợp đồng vay của doanh nghiệp; trong khi đó, những vấn đề này khó có thể thực hiện được đối với những chủ nợ trái phiếu. Do vậy, nếu muốn dễ phát hành trái phiếu, trước hết doanh nghiệp phải chứng tỏ mình đủ tư cách tín dụng để vay ngân hàng. Hay nói cách khác, vay được ngân hàng giúp doanh nghiệp phát ra một tín hiệu tốt (signalling) giúp chủ nợ khác cải thiện lòng tin của họ đối những thôn tin cứng vốn không đầy đủ và kém chất lượng.

Tóm lại, ngân hàng và doanh nghiệp vừa và nhỏ nên gặp nhau để tạo tiền đề cho cách hình thức huy động vốn khác có lẽ là giải pháp thuyết phục hơn là làm ngược lai. Vì chưa giải quyết được vấn đề này, có thể là nguyên nhân trong thời gian qua doanh nghiệp khó phát hành trái phiếu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét